- Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản — án dân sự — "tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất vô hiệu, đòi lại quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất"
- Căn cứ chính? Điều 95 Luật Đất đai; Điều 99 Luật Đất đai; Điều 100 Luật Đất đai
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
mặt tiền rộng 5m, chiều dài chạy hết đất. Năm 2013, sau khi Nhà nước thu hồi đất để làm đường, diện tích đất của thửa đất số 75 còn lại là 346,1m2 và đã được cấp lại GCNQSDĐ số BĐ820622 ngày 29/8/2013 cho ông T và bà Nguyễn Thị H. Ngày 17/02/2015 âm lịch, vợ chồng ông đã lập di chúc có nội dung: Ông Nông Văn T1 được một phần đất từ nhà xây giáp ra đến giáp nhà ông Nông Văn H4 và tách sổ cho Nông Thị H1 05m mặt đường, chiều sâu hết khuôn của mảnh đất được cấp GCNQSDĐ số Y 346610 cấp ngày 04/11/2004. Sau đó vợ chồng ông viết lại di chúc ngày 17/02/2015 với nội dung làm rõ: Ông Nông Văn T1 được một phần đất từ nhà xây giáp ra đến giáp nhà ông Nông Văn H4 và tách sổ cho Nông Thị H1 ở xã Đ, huyện B, tỉnh Bắc Kạn 05m mặt đường, chiều sâu hết khuôn của mảnh đất được cấp GCNQSDĐ số Y 346610 cấp ngày 04/11/2004; ông Nông Văn K được hưởng sổ số Y 346610 cấp ngày 04/11/2004 từ nhà xây đến giáp nhà ông Bàn Văn N đường vào V, thuộc thôn N, L, N, Bắc Kạn. K tách sổ chia cho cháu Nông Thị H4, mẹ Nông Thị V đã chết năm 2007 01 lô 05 mét mặt đường, sâu hết đất. Di chúc có hiệu lực khi ông T chết.
Ngày 18/02/2020, ông T đổi một phần diện tích đất của thửa đất số 75 giáp đất của hộ ông H5, bà L cho bà Phạm Thị T3. Việc đổi đất cho bà T3 chưa được làm thủ tục theo quy định của pháp luật.
Ngày 31/5/2021 ông Nông Văn T1 đã lợi dụng ông T bị kém về thính giác và thị lực và bà H vợ ông T đã già yếu để vợ chồng ông ký xác nhận vào hợp đồng tặng cho QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của thửa đất số 75 tại nhà ông Nông Văn T1 có mặt ông Đàm Xuân D là cán bộ địa chính xã C, huyện N, tỉnh Bắc Kạn. Tại thời điểm ký hợp đồng thì vợ chồng ông không biết nội dung về hợp đồng, chỉ biết ông T1 nói đó là hồ sơ tái định cư, còn cán bộ địa chính thì không giải thích với ông T câu nào về hợp đồng chỉ bảo ký đi, do vậy vợ chồng ông đã ký và do bà C và con gái bà C, ông T1 xúc phạm đến ông bà. Do vậy, vợ chồng ông yêu cầu Tòa giải quyết:
- Tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 31, quyển số 01, TP/CC-SCT/HDGD ngày 31/5/2021 vô hiệu;
- Buộc ông Nông Văn T1 hoàn trả lại cho vợ chồng ông T diện tích 306,1m2, còn lại vợ chồng ông T đồng ý cho ông Thành 40m2.
- Tuyên hủy GCNQSDĐ đã cấp cho ông T1 đối với diện tích đất trên (GCNQSDĐ số BĐ820622 ngày 29/8/2013 cho ông Nông Minh T và bà Nguyễn Thị H).
* Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, các nguyên đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện:
- Giữ nguyên yêu cầu tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 31, quyển số 01, TP/CC-SCT/HDGD ngày 31/5/2021 vô hiệu;
- Sửa lại nội dung: Buộc ông Nông Văn T1 hoàn trả lại cho vợ chồng ông T diện tích đất 346,1m2. Đối với phần diện tích đất đã chuyển nhượng cho con H1 và đổi đất cho bà T3 thì các nguyên đơn không tranh chấp. Sau khi Tòa án giải quyết xong vụ án thì sẽ làm thủ tục tách sổ cho họ.
- Giữ nguyên yêu cầu đề nghị Tòa án tuyên hủy GCNQSDĐ đã cấp cho ông T1 đối với diện tích đất trên.
- Án phí, lệ phí, chi phí tố tụng: Nguyên đơn đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Nếu toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận thì ông T1 phải chịu toàn bộ tiền án phí và chi phí tố tụng khác mà nguyên đơn đã nộp.
* Bà Nguyễn Thị H là nguyên đơn bổ sung: Lúc ông T làm đơn khởi kiện con T1 thì bà đã ký vào đơn khởi kiện. Con nào cũng là con nên bà đã rút phần yêu cầu khởi kiện của bà đối với Nông Văn T1. Nay bà tiếp tục giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Các nội dung khác nhất trí với nội dung ông T đã trình bày. Khi làm hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất tại nhà ông T1 thì bà có biết việc vợ chồng bà làm thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất cho con T1, còn ông T chồng bà có được đọc lại bản hợp đồng tặng cho hay không thì bà không biết. Ngoài ra bà H không còn có ý kiến gì khác.
Tại phiên Tòa ông Nông Văn K trình bày bổ sung cho lời khai của nguyên đơn: Trong năm 2022 thì một mình ông K từ trong Nam ra Bắc về quê nhà thăm cha mẹ được khoảng từ 3 đến 4 lần; khi trở ra thăm cha mẹ thì cha mẹ vẫn đang ở với ông T1. Trong lần ra Bắc lần đầu vào khoảng tháng 3 năm 2022 thì ông K đã kiểm tra tình trạng của thửa đất số 75 thì phát hiện thửa đất số 75 đã được đăng ký biến động quyền sử dụng đất cho ông T1, nên sau đó ông T, bà H đã khởi kiện ông T1 ra Tòa án nhân dân vì đã hòa giải nhiều lần nhưng không thành nên các nguyên đơn khởi kiện ông T1 ra Tòa án để có kết quả giải quyết cuối cùng.
* Theo biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa, ông Nông Văn T1 là bị đơn trình bày: Thửa đất đang tranh chấp đất hiện nay đã được ông mua lại của bà Trần Thị S1. Thửa đất nhận của bà S1 chưa được cấp GCNQSDĐ. Trong đợt đo vẽ bản đồ thì ông đã yêu cầu đo đạc thửa đất nhận chuyển nhượng của bà S1 vào cùng hai thửa đất của ông. Sau đó, ông T1 đã được cấp GCNQSDĐ số R 324039 ngày 09/01/2001 cho ba thửa, trong đó có thửa nhận chuyển nhượng của bà S1 là thửa đất số 75, diện tích 1.192m2. Sau khi có thông tin mở rộng đường vào xã C và để được nhận đền bù có lợi hơn, thì ông T1 đã làm hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ đới với thửa đất số 75 cho cha đẻ là ông Nông Văn T. Ngày 04/11/2004 ông T được cấp GCNQSDĐ số Y346610 cho thửa đất số 75. Sau khi Nhà nước thu hồi để làm đường quốc lộ 3B thì thửa đất số 75 còn lại 346,1m2 và được cấp lại GCNQSDĐ số BĐ 820622 ngày 29/8/2013 vẫn đứng tên ông T, bà H. Ngày 31/5/2021, ông T và bà H lập Hợp đồng tặng cho QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của thửa đất số 75, diện tích 346,1m2, tờ bản đồ số 27 đã được cấp GCNQSDĐ số BĐ 820622 ngày 29/8/2013 cho ông và ông đã làm thủ tục đăng ký biến động đất đai cho thửa đất số 75. Ngày 17/6/2021, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện N đã đăng ký biến động QSDĐ và ghi tên ông có quyền sử dụng đất vào mục những thay đổi sau khi cấp giấy chứng nhận trong GCNQSDĐ số BĐ 820622. Giấy chứng nhận QSDĐ này
* Theo biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa, chị Nông Thị Thanh T2 là người có quyền lợi liên quan: Chị là con gái của cha Nông Văn T1, mẹ Triệu Thị C và đang tạm trú tại ngôi nhà của cha mẹ. Chị không liên quan gì đến thửa đất số 75 đang tranh chấp và trong quá trình tạm trú tại nhà cha mẹ, thì chị không được xúc phạm đến ông T, bà H nên đề nghị Tòa án không đưa chị vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
* Theo biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa, ông Đàm Xuân D là người có quyền lợi liên quan trình bày: Vào khoảng tháng 5 năm 2021, ông Dậu công tác tại UBND xã C, huyện N với chức danh chuyên môn: Công chức địa chính xã, thì có ông Nông Văn T1 mang hồ sơ đất đai đến phòng Địa chính xã C đề nghị làm thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Nông Minh T, bà Nguyễn Thị H với ông Nông Văn T1. Tuy nhiên, ông T, bà H do tuổi già, sức yếu không đến UBND xã được, nên ông T1 đề nghị công chức địa chính xã đến nhà ông T1 để làm trực tiếp. Xét thấy ông T, bà H đã có tuổi nên ông D đã đến nhà ông T1 để làm thủ tục tặng cho. Tại buổi làm việc có mặt ông T, bà H, ông T1 và ông D, ngoài ra không còn có ai khác; tại buổi làm việc ông D đã nói nội dung buổi làm việc cho các bên cùng nghe, sau đó ông D đã đưa bản hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ghi ngày 31/5/2021 do ông D chuẩn bị sẵn cho ông T, bà H cùng xem lại chứ ông không đọc cho mọi người cùng nghe do thính giác của ông T đã kém. Sau khi họ trực tiếp xem xong bản hợp đồng, thì ông T, bà H đã cùng nhau ký vào Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất. Trong quá trình làm việc thì ông D không có lời nói hay hành vi gì khác để ông T, bà H hiểu sai nội dung, mục đích của buổi làm việc và nội dung của bản Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất để họ ký xác nhận. Ông D khẳng định việc ông T, bà H cùng nhau ký vào hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất lập ngày 31/5/2021 là hoàn toàn tự nguyện sau khi ông T, bà H đã được xem lại nội dung của bản hợp đồng.
* Theo văn bản số 25/BC-UBND ngày 01/02/2024 của UBND xã C và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của UBND xã C cung cấp thông tin: UBND xã C lập thủ tục Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngoài trụ sở UBND xã đúng với quy định tại Điều 10, Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ quy định về cấp bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng giao dịch. Trong quá trình hướng dẫn lập thủ tục tặng cho QSDĐ, do ông T, bà H tuổi cao, chân đau không đến trực tiếp UBND xã để làm thủ tục, nên việc ông T, bà H và ông T1 ký tại hợp đồng tặng cho QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền trên đất tại nhà người có quyền sử dụng đất có sự chứng kiến của ông Đàm Xuân D, cán bộ địa chính xã và UBND xã đã chứng thực là đúng quy định của pháp luật.
* Tại văn bản số 440/CV-CNVPĐK ngày 04/12/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Bắc Kạn, Chi nhánh huyện N cung cấp thông tin: Về trình tự, thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất nói chung và đối với thửa đất số 75, tờ bản đồ số 27 là đúng thẩm quyền theo quy định của Điều 79 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP. Về thành phần hồ sơ đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT (Đã được sửa đổi bổ sung tại khoản 2 Điều 7 Thông tư số 33/2014/TT-BTNMT). đồng xét xử quyết định tiếp tục phiên toà theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Đối với việc thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện nguyên đơn được phát sinh trước ngày mở phiên hòa giải và tại phiên hòa giải: Việc thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện; trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt không có yêu cầu độc lập, nhưng tại phiên tòa có yêu cầu ông T1, bà C thực hiện nghĩa vụ của người vay đối với người cho vay là vượt quá phạm vi yêu cầu. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận yêu cầu thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không chấp nhận yêu cầu độc lập của Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt theo quy định tại Điều 244 của bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Đối với chị Nông Thị Thanh T2: Mặc dù chị T2 yêu cầu không đưa chị vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án, nhưng xét thấy trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Các nguyên đơn có lời khai về nội dung chị T2 thường xuyên xúc phạm nguyên đơn nên xét thấy cần xác định tư cách tham gia tố tụng của chị T2 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại khoản 4 Điều 68 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
[2] Về áp dụng pháp luật nội dung:
[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Nguyên đơn có yêu cầu khởi kiện gồm:
- Yêu cầu tuyên bố Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 31, quyển số 01, TP/CC-SCT/HDGD ngày 31/5/2021 vô hiệu;
- Yêu cầu ông Nông Văn T1 trả lại thửa đất số 75.
- Yêu cầu Tòa án tuyên hủy GCNQSDĐ số BĐ820622, do UBND huyện N cấp ngày 29/8/2013 đã được đăng ký biến động ngày 17/6/2021.
[2.2] Xét nguồn gốc đất cho tặng:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án xác định: Thửa đất số 75 có địa chỉ tại thôn P, xã L (Nay là thôn N, xã C) huyện N, tỉnh Bắc Kạn có nguồn gốc là của vợ chồng ông Đào Xuân S và bà Trần Thị S1 chuyển nhượng cho ông T, ông T1. Ông Nông Văn T1 nhận chuyển nhượng thửa đất này và được cấp GCNQSSDĐ lần đầu vào ngày 09/01/2001 có số R 324039, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01715 QSDĐ. Ngày 15/7/2004, ông Nông Văn T1 chuyển nhượng quyền sử dụng đất của thửa đất số 75 cho ông Nông Minh T; ngày 04/11/2004 hộ ông T được cấp GCNQSDĐ số Y346610 cho thửa đất số 75. Sau khi Nhà nước thu hồi để làm đường quốc lộ 3B thì thửa đất số 75 còn lại diện tích đất 346,1m2 và được cấp lại GCNQSDĐ số BĐ 820622 ngày 29/8/2013 cho hộ ông T, bà H.
[2.2] Xét hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất:
Ngày 31/5/2021, ông T và bà H ký kết Hợp đồng tặng cho QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với thửa đất số 75, diện tích số 75 về việc ông T1 là người có quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 75 đã được cấp GCNQSDĐ số BĐ 820622 cấp ngày 29/8/2013 cho ông T, bà H vào ngày 17/6/2021 không có tranh chấp nên ông không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông T, bà H với ông. Ngoài ra ông T1 không có yêu cầu phản tố hay yêu cầu gì khác.
Tại biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa, ông Đàm Xuân D đã khẳng định: Do thấy ông T, bà H đã có tuổi nên anh D đã đến nhà anh T1 để làm việc. Tại buổi làm việc ông D đã nói nội dung buổi làm việc cho các bên cùng nghe, sau đó ông D đã đưa bản Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ghi ngày 31/5/2021 do ông D chuẩn bị sẵn cho ông T, bà H cùng xem lại chứ anh không đọc cho mọi người cùng nghe do thính giác của ông T đã kém. Sau khi họ trực tiếp xem xong bản hợp đồng, thì ông T, bà H đã cùng nhau ký vào bản hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất. Trong quá trình làm việc thì ông D không có lời nói hay hành vi gì khác để ông T, bà H hiểu sai nội dung, mục đích của buổi làm việc và nội dung của bản hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất để họ ký xác nhận. Ông D khẳng định việc ông T, bà H cùng nhau ký vào hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất lập ngày 31/5/2021 là hoàn toàn tự nguyện sau khi ông T, bà H đã được xem lại nội dung của bản hợp đồng.
Tại văn bản số 25/BC-UBND ngày 01/02/2024 của UBND xã C và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của UBND xã C cho biết: UBND xã Cường Lợi lập thủ tục hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngoài trụ sở UBND xã đúng với quy định tại Điều 10, Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ quy định về cấp bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng giao dịch. Trong quá trình hướng dẫn lập thủ tục tặng cho QSDĐ, do ông T, bà H tuổi cao, chân đau không đến đến trực tiếp UBND xã để làm thủ tục, nên việc ông T, bà H và ông T1 ký tại hợp đồng tặng cho QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền trên đất tại nhà người có quyền sử dụng đất có sự chứng kiến của ông Đàm Xuân D, cán bộ địa chính xã là đúng quy định của pháp luật.
* Tại văn bản số 440/CV-CNVPĐK ngày 04/12/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Bắc Kạn, Chi nhánh huyện N cho biết: Về trình tự, thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất nói chung và đối với thửa đất số 75, tờ bản đồ số 27 là đúng thẩm quyền theo quy định của Điều 79 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP. Về thành phần hồ sơ đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT (Đã được sửa đổi bổ sung tại khoản 2 Điều 7 Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT).
* Tại văn bản số 657/UBND-TNMT ngày 14/3/2023 của UBND huyện Na cho biết: Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Na Rì đã thực hiện thủ tục đăng ký biến động QSDĐ, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất trong trường hợp tặng cho QSDĐ, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đúng quy định tại điểm a khoản 4, khoản 5 Điều 95, Điều 188 Luật đất đai năm 2013; Điều 79 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014. Do đó yêu cầu hủy Giấy CNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản sản khác gắn liền với đất số BDD820622 không có cơ sở. Ông T đã bán ngôi nhà sàn ở xã V (Nay là xã V1) rồi vào ở với con K trong Nam, sau đó lại quay lại ra Bắc và ở vợ chồng T1.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy: Việc tặng cho quyền sử dụng đất đã được lập Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất ngày 31/5/2021; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BĐ 820622 cấp ngày 29/8/2013 đã đăng ký biến động đất đai ngày 17/6/2021 là đúng quy định của pháp luật. Do đó, có căn cứ để bác toàn bộ đơn yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn bao gồm: Yêu cầu tuyên bố Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất ở và tài sản khác gắn liền với đất ngày 31/5/2021 vô hiệu; yêu cầu đòi lại quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 75; yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BĐ 820622 đã đăng ký biến động đất đai ngày 17/6/2021 theo quy định tại khoản 2 Điều 133, các Điều 117, 168, 495, 500; 501, 502, 503 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 3, Điều 95; Điều 99, 100 của Luật đất đai năm 2013.
Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn không có yêu cầu gì khác ngoài nội dung đơn khởi kiện; bị đơn không có yêu cầu phản tố; người có quyền lợi liên quan không có yêu cầu độc lập nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3] Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 400.000 đồng; chi phí đo đạc địa chính là 2.500.000 đồng. Do toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn không được Tòa án chấp nhận nên buộc ông Nông Minh T, bà Nguyễn Thị H phải chịu toàn bộ tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và tiền chi phí đo đạc địa chính theo quy định tại Điều 157 của Bộ luật tố tụng dân sự. Xác nhận ông T, bà H đã thực hiện xong nghĩa vụ nộp tiền xem xét thẩm định tại chỗ và đo đạc địa chính và đã chi phí xong.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn không được Tòa chấp nhận nên buộc ông Nông Minh T, bà Nguyễn Thị H phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm. Bị đơn không có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi liên quan không có yêu cầu độc lập nên không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm
[5] Quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp và có căn cứ theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 68, 147, 157, 227, 244, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ khoản 2 Điều 133 và các Điều 117, 168, 495, 500, 501, 502, 503 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Căn cứ khoản 16 Điều 3; điểm a khoản 4, 5 Điều 95; điểm a, c khoản 1 Điều 99 và các Điều 100, 188 của Luật đất đai năm 2013;