- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Vụ án DS giữa S-Đ"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH S.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HƢNG YÊN TỈNH HƢNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2024/DS-ST Ngày 22/01/2024 V/v TC hợp đồng cầm cố tài sản |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HƢNG YÊN, TỈNH HƢNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thương;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Văn Hạnh và bà Nguyễn Thị Hệ;
- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Đăng Việt - Thư ký viên Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Yến - Kiểm sát viên;
Ngày 22 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên, xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án dân sự thụ lý số 37/2023/TLST-DS, ngày 11/10/2023 về “Tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2023/QĐXXST-DS, ngày 18/12/2023 và quyết định hoãn phiên toà số 01/2024/QĐST-DS ngày 05/01/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty TNHH S;
Địa chỉ: A N, phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An;
Đại diện theo pháp luật: Ông Prart J - Giám đốc;
Đại diện theo ủy quyền: Chi nhánh H - Công ty TNHH S; địa chỉ: Số E, Tiểu khu G, thị trấn L, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Do ông Trần Anh T là đại diện (đại diện theo uỷ quyền ký đơn khởi kiện và tham gia tố tụng). (Ông T có mặt khi xét xử và vắng mặt khi tuyên án).
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1979 (Vắng mặt);
HKTT/Địa chỉ: Đội 8, thôn Đ, xã B, thành phố H, tỉnh Hưng Yên.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai, đại diện của nguyên đơn là ông Trần Anh T trình bày:
Ngày 06/7/2022 Công ty TNHH S - Chi nhánh H (Sau đây gọi tắt là Công ty S); địa chỉ: Số E, tiểu khu G, thị trấn L, huyện L, tỉnh Hòa Bình và bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1979; HKTT: Đội 8, thôn Đ, xã B, thành phố H, tỉnh Hưng Yên có ký hợp đồng cầm cố số HYM220701003NA19X và phụ lục hợp đồng cầm cố, để cầm cố tài sản là 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda; số loại: SH125; số máy JF74E0054106; số khung RLHJF7318KY012742; biển kiểm soát 89B1 - 853.18; giấy chứng nhận đăng ký số 120780, cấp ngày 12/9/2019 mang tên Nguyễn Thị Đ để lấy số tiền 35.000.000đ (Ba mươi lăm triệu đồng chẵn), thời hạn cầm cố là 18 tháng (Kể từ 06/7/2022 đến ngày 06/01/2024), lãi suất cố định là 1,1%/tháng, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cố định, phí quản lý hồ sơ 0,5%/tháng, phí phạt 8%/số tiền vi phạm; trả gốc, lãi theo kỳ. Sau khi ký hợp đồng, Công ty S đã giải ngân cho bà Nguyễn Thị Đ đủ số tiền 35.000.000 đồng.
Do có nhu cầu mượn lại tài sản đã cầm cố để sử dụng, Công ty S đã đồng ý cho bà Đ mượn lại tài sản cầm cố bằng “Giấy mượn xe” ngày 06/7/2022 với thời hạn 30 ngày (Từ ngày 06/7/2022 đến hết ngày 06/8/2022) và thỏa thuận phí bảo dưỡng, hao mòn 735.000 đồng/1 tháng. Công ty S đã bàn giao tài sản cầm cố cho bà Đ.
Quá trình thực hiện hợp đồng, bà Đ không thanh toán được khoản tiền gốc, tiền lãi, tiền phí và trả lại tài sản cầm cố đã mượn theo các nội dung đã thỏa thuận. Do bà Đ vi phạm nghiêm trọng các thỏa thuận trong hợp đồng cầm cố tài sản và giấy mượn xe nên Công ty S khởi kiện và yêu cầu Toà án giải quyết:
- Tuyên buộc bà Nguyễn Thị Đ có nghĩa vụ thanh toán tiền gốc, tiền lãi, tiền phí theo hợp đồng cầm cố tài sản với tổng số tiền tính đến ngày 25/9/2023 là 60.240.000 đồng cho Công ty S.
- Tuyên buộc bà Nguyễn Thị Đ phải giao trả lại chiếc xe máy Honda SH125, biển kiểm soát 89B1-853.18 cho Công ty S để hai bên thực hiện thanh lý hợp đồng cầm cố và bàn giao tài sản, các giấy tờ liên quan theo quy định của pháp luật.
Đến ngày 15/12/2023, nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện, cụ thể: Rút phần yêu cầu “Tuyên buộc bà Nguyễn Thị Đ phải giao trả lại chiếc xe máy Honda SH125, biển kiểm soát 89B1-853.18 cho Công ty S để hai bên thực hiện thanh lý hợp đồng cầm cố và bàn giao tài sản, các giấy tờ liên quan theo quy định của pháp luật”.
Giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án và chính quyền địa phương nhiều lần trực tiếp đến nơi ở của gia đình bà Nguyễn Thị Đ tại Đội 8, thôn Đ, xã B, thành phố H để tống đạt các văn bản tố tụng, nhưng đều không có kết quả. Kết quả xác minh tại Công an xã B và Trưởng thôn Đ, xã B xác định bà Nguyễn Thị Đ vẫn có mặt tại nơi cú trú.
Tòa án đã tiến hành niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng bà Đ vẫn không đến Tòa án làm việc.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn vẫn giữ nguyên quan điểm rút một phần yêu cầu khởi kiện theo đơn đề nghị ngày 15/12/2023 và chỉ yêu cầu Tòa án giải quyết, buộc bà Nguyễn Thị Đ có nghĩa vụ thanh toán tiền gốc, tiền lãi, tiền phí theo hợp đồng cầm cố tài sản, giấy mượn xe, tính đến ngày 22/01/2024, cụ thể:
- Tiền gốc còn lại tính đến 22/01/2024: 35.000.000đ; tiền lãi 1,1%/tháng và phí quản lý hồ sơ 0,5%/tháng đến 22/01/2024: 5.558.938đ; tiền phí mượn xe 2,1%/tháng tính đến 22/01/2024: 13.230.000đ; tiền lãi quá hạn, phạt vi phạm tính đến 22/01/2024: 14.883.629đ. Tổng cộng là: 68.672.567 đồng.
- Nguyên đơn sẽ trả lại bản chính giấy đăng ký xe cho bà Đ sau khi bà Đ thực hiện xong toàn bộ nghĩa vụ cho nguyên đơn.
Bị đơn được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 đến phiên tòa, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử từ khi Tòa án thụ lý và tại phiên tòa sơ thẩm đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
- Hợp đồng cầm cố số HYM220701003NA19X, phụ lục hợp đồng; giấy mượn xe cùng ngày 06/7/2022 giữa các đương sự là phù hợp quy định pháp luật nên phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên.
- Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền gốc, tiền lãi theo thỏa thuận nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có cơ sở chấp nhận.
- Thỏa thuận về tiền lãi trong hạn, lãi quá hạn, phí quản lý hồ sơ, phí bảo dưỡng và hao mòn tài sản, phí phạt chưa đảm bảo theo quy định của Bộ luật Dân sự nên chỉ có căn cứ chấp nhận khoản tiền lãi trong hạn, lãi quá hạn, phạt vi phạm. Không chấp nhận khoản tiền phí quản lý hồ sơ, phí bảo dưỡng và hao mòn tài sản.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn các khoản tiền gốc, tiền lãi trong hạn, tiền lãi quá hạn, tiền phạt vi phạm.
- Nguyên đơn có trách nhiệm trả lại giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 120780 do Công an tỉnh H cấp ngày 12/9/2019 mang tên Nguyễn Thị Đ sau khi bị đơn thực hiện xong nghĩa vụ.
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện, do nguyên đơn rút yêu cầu về việc tuyên buộc bị đơn phải trả lại tài sản cầm cố mà nguyên đơn cho bị đơn mượn lại.
- Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định. Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần yêu cầu không được chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn Công ty TNHH S có đơn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị Đ trả lại tiền phát sinh từ hợp đồng cầm cố tài sản, đây là quan hệ pháp luật về “Tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản”; bà Đ đăng ký HKTT tại: Đ, thôn Đ, xã B, thành phố H, tỉnh Hưng Yên. Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn bà Nguyễn Thị Đ đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên căn cứ Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.
Về nội dung vụ án:
Về hợp đồng cầm cố tài sản:
Ngày 06/7/2022, bà Nguyễn Thị Đ cầm cố tài sản là 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH125, biển kiểm soát 89B1-853.18, số máy JF74E0054106, số khung RLHJF7318KY012742, thuộc quyền sở hữu của mình cho Công ty TNHH S - Chi nhánh H để lấy số tiền 35.000.000 đồng, thời hạn cầm cố 18 tháng (từ ngày 06/7/2022 đến ngày 06/01/2024). Nguyên, bị đơn có đầy đủ năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự; hợp đồng cầm cố được các bên tự nguyện thỏa thuận, phù hợp với quy định tại Điều 309 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên hợp đồng cầm cố số HYM220701003NA19X và phụ lục hợp đồng cầm cố giữa các bên có hiệu lực pháp luật.
Về hợp đồng mượn lại tài sản cầm cố:
Sau khi ký hợp đồng cầm cố số HYM220701003NA19X, nguyên đơn đã đồng ý cho bà Đ mượn lại tài sản cầm cố theo “Giấy mượn xe” lập ngày 06/7/2022 với thời hạn 30 ngày (từ ngày 06/7/2022 đến ngày 06/8/2022). Việc thỏa thuận mượn tài sản cầm cố giữa các bên là tự nguyện, phù hợp với Điều 313, 314 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên hợp đồng mượn lại tài sản cầm cố có hiệu lực pháp luật.
Về vi phạm hợp đồng cầm cố và hợp đồng mượn tài sản cầm cố:
Sau khi ký hợp đồng cầm cố, nguyên đơn đã giao đủ số tiền 35.000.000đ cho bị đơn, nhưng ngay từ thời hạn thanh toán đầu tiên (tháng 8/2022) cho đến nay, bị đơn đã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn bất kỳ khoản tiền gốc, tiền lãi nào; không trả lại tài sản đã mượn khi hết thời hạn là vi phạm thoả thuận về thời hạn thanh toán theo khoản 1 Điều 4 của hợp đồng cầm cố và quy định tại Điều 466 Bộ luật Dân sự.
Do bà Đ vi phạm nghiêm trọng các thỏa thuận theo hợp đồng cầm cố và giấy mượn xe cùng lập ngày 06/7/2022 nên nguyên đơn khởi kiện, buộc bà Đ phải thực hiện một số nghĩa vụ theo nội dung đã thỏa thuận trong hợp đồng cầm cố tài sản và giấy mượn xe là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về lãi suất, các khoản phí và phạt vi phạm:
- Về lãi suất và các khoản phí: Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn không giải trình, phân tích được cách tính (công thức tính) để tách biệt, cá thể hóa các khoản tiền mà nguyên đơn gọi là “Phí quản lý hồ sơ”, “Phí bảo dưỡng và hao mòn tài sản”; không đưa ra được tính hợp pháp và có căn cứ của những khoản phí này mà bị đơn phải có nghĩa vụ thanh toán theo quy định của pháp luật dân sự về “Cầm cố tài sản”.
Trong khi đó, theo quy định tại Điều 309 của Bộ luật Dân sự về “Cầm cố tài sản” chỉ là một trong những biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, trong vụ án này là nghĩa vụ vay tiền. Như vậy, giao kết giữa các bên thực chất là giao kết hợp đồng vay tiền. Xét thấy “Hợp đồng cầm cố tài sản” và “Giấy mượn tài sản” nêu trên có bản chất là hợp đồng vay tài sản là tiền giữa cá nhân, pháp nhân không phải là tổ chức tín dụng với nhau (không phải là hợp đồng tín dụng) nên chỉ được áp dụng quy định về lãi, lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà không được áp dụng quy định về lãi, lãi suất theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng.
Việc các bên thỏa thuận về khoản tiền “phí quản lý hồ sơ”, “phí bảo dưỡng và hao mòn tài sản” là tự nguyện, không trái đạo đức xã hội, nhưng chưa phù hợp với quy định của pháp luật về “Hợp đồng cầm cố tài sản” và “Hợp đồng mượn tài sản” nên chỉ có căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải chịu tiền lãi trong hạn, lãi quá hạn trên khoản tiền gốc chưa thanh toán theo quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự và Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm mà không có căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải chịu khoản tiền là phí quản lý hồ sơ 0,5%/tháng/dư nợ gốc; phí bảo dưỡng và hao mòn tài sản 21,%/tháng/dư nợ gốc.
- Về phạt vi phạm: Theo thỏa thuận tại Điều 11 của hợp đồng cầm cố và mục 6 của phụ lục hợp đồng cầm cố thì bên cầm cố phải chịu phạt vi phạm với mức 8% giá trị phần nghĩa vụ vi phạm. Việc thỏa thuận phạt vi phạm của các bên là tự nguyện, không trái đạo đức xã hội, phù hợp với quy định tại Điều 418 của Bộ luật Dân sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về rút một phần yêu cầu khởi kiện:
Giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, nguyên đơn rút một phần yêu cầu về việc “Tuyên buộc bà Nguyễn Thị Đ phải giao trả lại chiếc xe máy Honda SH125 mang biển kiểm soát 89B1-853.18 cầm cố mà phía bị đơn đã mượn lại của nguyên đơn để hai bên thực hiện thanh lý hợp đồng cầm cố và bàn giao tài sản các giấy tờ liên quan theo quy định của pháp luật”.
Xét việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện và không trái đạo đức xã hội, Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự, đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty S về việc tuyên buộc bà Nguyễn Thị Đ phải giao trả lại chiếc xe máy Honda SH125 mang biển kiểm soát 89B1-853.18 để đảm bảo nghĩa vụ thanh toán cho Công ty S.
Từ những nhận định nêu trên có cơ sở chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và buộc bà Nguyễn Thị Đ phải trả cho Công ty TNHH S khoản tiền gốc, tiền lãi, tiền lãi quá hạn, tiền phạt vi phạm tính đến ngày 22/01/2024, cụ thể như sau:
- Tiền gốc: 35.000.000 đồng.
- Tiền lãi trên nợ gốc trong hạn (từ ngày 06/7/2022 đến ngày 06/01/2024 là 18 tháng) = 35.000.000đ x 1,1%/tháng x 18 tháng = 6.930.000 đồng;
- Tiền lãi trên kỳ hạn nợ gốc quá hạn chưa trả (từ ngày 06/7/2022 đến ngày 06/01/2024 là 18 kỳ, mỗi kỳ tương ứng số tiền gốc phải trả: 1.944.444,4đ) = 5.472.000 đồng, cụ thể:
+ Kỳ 1 (tháng 8/2022)= 1.944.444,3đ x (1,1%/tháng x 150%) x 01 kỳ = 32.083đ (làm tròn thành 32.000đ).
+ Kỳ 2 (tháng 9/2022)= 1.944.444,3đ x (1,1%/tháng x 150%) x 02 kỳ = 64.000đ;
+ Tương tự: kỳ 3 (tháng 10/2022) = 96.000đ; kỳ 4 (tháng 11/2022) = 128.000đ; kỳ 5 (tháng 12/2022) = 160.000đ; kỳ 6 (tháng 01/2023) = 192.000đ; kỳ 7 (tháng 02/2023) = 224.000đ; kỳ 8 (tháng 3/2023) = 256.000đ; kỳ 9 (tháng 4/2023) = 288.000đ; kỳ 10 (tháng 5/2023) = 320.000đ; kỳ 11 (tháng 6/2023) = 352.000đ; kỳ 12 (tháng 7/2023) = 384.000đ; kỳ 13 (tháng 8/2023) = 416.000đ; kỳ 14 (tháng 9/2023) = 448.000đ; kỳ 15 (tháng 10/2023) = 480.000đ; kỳ 16 (tháng 11/2023) = 512.000đ; kỳ 17 (tháng 12/2023) = 544.000đ; kỳ 18 (tháng 01/2024) = 576.000đ.
- Tiền lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả (từ ngày 06/01/2024 đến ngày 22/01/2024 là 16 ngày) = 35.000.000đ x (1,1%/tháng x 150% : 30 ngày) x 16 ngày = 308.000 đồng.
- Tiền phạt vi phạm: 35.000.000đ x 8% = 2.800.000 đồng.
Tổng tiền gốc; tiền lãi trong hạn; tiền lãi quá hạn; tiền phạt vi phạm là: 50.510.000 đồng.
Như vậy, ngoài khoản tiền gốc thì số tiền lãi trong hạn, tiền lãi quá hạn, tiền phí quản lý hồ sơ, tiền phí bảo dưỡng và hao mòn tài sản của nguyên đơn không được chấp nhận là: 18.162.567 đồng.
Về án phí sơ thẩm: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận tương ứng với số tiền 50.510.000 đồng. Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu không được chấp nhận tương ứng với số tiền 18.162.567 đồng.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên về việc giải quyết vụ án là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 92; Điều 147; Điều 227; Điều 228; điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các điều từ Điều 309 đến Điều 316; Điều 418; Điều 466; Điều 357; Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Căn cứ vào Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH S.
2. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc tuyên buộc bà Nguyễn Thị Đ phải giao trả lại chiếc xe máy Honda SH125, biển kiểm soát 89B1-853.18 cho Công ty TNHH S để hai bên thực hiện thanh lý hợp đồng cầm cố và bàn giao tài sản các giấy tờ liên quan theo quy định của pháp luật.
3. Buộc bà Nguyễn Thị Đ phải trả cho Công ty TNHH S số tiền tính đến ngày 22/01/2024 là: 50.510.000 đồng (Năm mươi triệu năm trăm mười nghìn đồng).
4. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án:
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người có quyền thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án về khoản tiền phải trả cho người được thi hành án, Cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành, nếu người phải thi hành án không chịu thi hành án thì hàng tháng còn phải chịu trả lãi theo quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự đối với số tiền chậm trả, tương ứng với thời gian chậm trả.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
Sau khi bà Nguyễn Thị Đ thực hiện xong toàn bộ nghĩa vụ trả tiền, Công ty TNHH S phải trả lại cho bà Nguyễn Thị Đ bản chính của Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 120780 do Công an tỉnh H cấp ngày 12/9/2019 mang tên Nguyễn Thị Đ.
5. Về án phí:
Bà Nguyễn Thị Đ phải chịu 2.525.500đ (Hai triệu năm trăm hai mươi lăm nghìn năm trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Công ty TNHH S phải chịu 908.000đ (Chín trăm linh tám nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được đối trừ vào số tiền 1.506.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại biên lai thu tiền số 0001571 ngày 11/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên. Trả lại Công ty TNHH S số tiền 598.000đ (Năm trăm chín mươi tám nghìn đồng).
6. Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn (Vắng mặt khi tuyên án), bị đơn vắng mặt tại phiên tòa đều có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên; - Viện kiểm sát nhân dân TP Hưng Yên; - Chi cục Thi hành án dân sự TP Hưng Yên; - Lưu hồ sơ vụ án, VP. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Thƣơng |