vanban.org

Bản án 01/2024/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị V (R).

Buộc bà Lê Nguyễn Phước D trả cho bà Hồ Thị V (R) số tiền 1.000.000.000đồng (Một tỷ đồng), theo giấy vay tiền ngày 15/11/2022. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không chịu thi hành khoản tiền trên, thì hàng tháng … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Hồ Thị V - Lê Nguyễn Phước D"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị V (R).
  • Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự xác định; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HẢI LĂNG
TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2024/DS-ST
Ngày 17/01/2024
“V/v Tranh chấp hợp đồng
vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI LĂNG, TỈNH QUẢNG TRỊ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thanh Khánh

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Nguyễn Ngọc Quốc

- Bà Lê Thị Liền

Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Kim Hưng – Thẩm tra viên Tòa án nhân

dân huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Lăng tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Thuỳ Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 01 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 46/2023/TLST-DS ngày 09 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2023/QĐXX-ST ngày 20 tháng 12 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên toà số 01/2024/QĐST-DS ngày 04/01/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Hồ Thị V (R), sinh năm 1970; địa chỉ: K 5, thị trấn D, huyện H, tỉnh Quảng Trị.

Đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị O; địa chỉ: 07 Trịnh Hoài Đ, đường số 03, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị và ông Trần Văn H; địa chỉ: 06 Nguyễn Lương B, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (văn bản uỷ quyền ngày 14/11/2023), ông H có mặt, bà O vắng mặt.

Bị đơn: Bà Lê Nguyễn Phước D, sinh năm 1991; địa chỉ: K 8, thị trấn D, huyện H, tỉnh Quảng Trị, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ghi ngày 03/10/2023 và quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn trình bày:

Ngày 15/11/2022, bà Lê Nguyễn Phước D vay của bà Hồ Thị V số tiền 1.000.000.000đồng (Một tỷ đồng), mục đích vay để đáo hạn Ngân hàng, bà D cam kết sau khi hoàn thành thủ tục đáo hạn thì bà D trả lại số tiền này cho bà V. Tuy nhiên, sau nhiều ngày không thấy bà D trả số tiền như đã cam kết nên bà V nhiều lần gặp mặt, điện thoại để đòi nợ nhưng bà D vẫn không trả. Ngày 29/9/2023 bà V đã gửi thông báo đòi nợ cho bà D theo đường Bưu điện nhưng bà D vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Do đó, bà Hồ Thị V yêu cầu Tòa án giải quyết, buộc bà D phải trả cho bà V số tiền 1.000.000.000đồng (Một tỷ đồng), bà V không yêu cầu tiền lãi.

Tại các phiên hoà giải ngày 03/11/2023, ngày 06/12/2023 và tại phiên tòa, bà Lê Nguyễn Phước D trình bày: Bà D thừa nhận ngày 15/11/2022 có vay bà Hồ Thị V số tiền 1.000.000.000đồng (Một tỷ đồng) và bà V đã nhiều lần liên hệ với bà D để đòi nợ. Tuy nhiên, do điều kiện khó khăn nên bà D xin trả cho bà V mỗi tháng 1.000.000đồng (Một triệu đồng).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Về thủ tục tố tụng: Trong thời gian chuẩn bị xét xử sơ thẩm, Thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định tại các Điều 35, 39, 97, 171, 195, 196, 203, 208, 220, 233 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên, tòa Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm.

Nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ quy định tại các Điều 70, 71, 72, 227, 234 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về hướng giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463, 466, 469 của Bộ luật dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị V, buộc bà Lê Nguyễn Phước D trả cho bà Hồ Thị V số tiền 1.000.000.000đồng (Một tỷ đồng).

Về án phí: Bà Lê Nguyễn Phước D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về quan hệ tranh chấp: Ngày 15/11/2022, bà Lê Nguyễn Phước D và bà Hồ Thị V ký kết hợp đồng vay tài sản, quá trình thực hiện hợp đồng do bà D không thực hiện nghĩa vụ trả nợ nên ngày 03/10/2023 bà V khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết, buộc bà D trả cho bà Vi số tiền đã vay, do đó, xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.

. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn có nơi cư trú tại k 8, thị trấn Di, huyện H, tỉnh Quảng Trị và vụ án không có yếu tố nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Quảng Trị, căn cứ vào khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

. Về xác định tư cách tham gia tố tụng: Bà Hồ Thị V là người khởi kiện yêu cầu bà Lê Nguyễn Phước D phải trả cho mình số tiền 1.000.000.000đồng (Một tỷ đồng) nên căn cứ khoản 2, 3 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự xác định, bà Hồ Thị V là nguyên đơn, bà Lê Nguyễn Phước D là bị đơn.

. Về nội dung vụ án: Căn cứ giấy vay tiền ghi ngày 15/11/2022 giữa bà Hồ Thị V và bà Lê Nguyễn Phước D và lời trình bày của các bên đương sự, có đủ cơ sở khẳng định bà D có vay của bà bà V với số tiền 1.000.000.000đồng (Một tỷ đồng) và thuộc trường hợp hợp đồng vay tiền không kỳ hạn và không có lãi.

Tại khoản 1 Điều 469 Bộ luật dân sự có nội dung: Đối với hợp đồng vay không kỳ hạn và không có lãi thì bên cho vay có quyền đòi lại tài sản và bên vay cũng có quyền trả nợ vào bất cứ lúc nào nhưng phải báo cho nhau biết trước một thời gian hợp lý, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận, nguyên đơn đã nhiều lần liên hệ với bị đơn để yêu cầu trả nợ và ngày 21/9/2023, bị đơn có nhận được thông báo đòi nợ của nguyên đơn, tuy nhiên, vì điều kiện khó khăn nên bị đơn chưa trả được. Do đó, ngày 03/10/2023, nguyên đơn nộp đơn khởi kiện tại Tòa án là đúng với quy định của pháp luật.

Từ những quy định của pháp luật và tài liệu, chứng cứ do các bên cung cấp thì thấy rằng, việc bà Hồ Thị V khởi kiện yêu cầu bà Lê Nguyễn Phước D trả cho mình số tiền 1.000.000.000đồng (Một tỷ đồng) là có căn cứ nên cần được chấp nhận.

. Về án phí: Chị Lê Nguyễn Phước D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463, 466, 469 của Bộ luật dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị V (R).

2. Buộc bà Lê Nguyễn Phước D trả cho bà Hồ Thị V (R) số tiền 1.000.000.000đồng (Một tỷ đồng), theo giấy vay tiền ngày 15/11/2022.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không chịu thi hành khoản tiền trên, thì hàng tháng còn phải chịu thêm khoản tiền lãi tương ứng với số tiền chậm thi hành án, tại thời điểm thanh toán. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án.

3. Về án phí: Bà Lê Nguyễn Phước D phải chịu 42.000.000đồng (Bốn

mươi hai triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Trả lại cho bà Hồ Thị V (R) số tiền tạm ứng án phí đã nộp 21.000.000đồng (Hai mươi mốt triệu đồng) theo biên lai số CC/2021/0000429 ngày 09/10/2023 của cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Quảng Trị.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án

này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ