vanban.org

Bản án 01/2024/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Sacombank - Tính"
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẠC L
TỈNH BẠC L

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2024/DS-ST
Ngày 15/01/2024
V/v Tranh chấp hợp đồng tín
dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Công Bằng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Dư Thị Út.

2. Bà Khưu Liên Dung.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hà Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bạc L, tỉnh Bạc L.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc L, tỉnh Bạc L tham gia phiên tòa: Bà Trần Mỹ Linh – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bạc L xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 468/2023/TLST-DS ngày 09 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 192/2023/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 12 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên toà số 185/2023/QĐST-DS ngày 29 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương T. Trụ sở: 266 – 268, đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường Võ Thị Sáu, Quận 3, thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: bà Nguyễn Đức Thạch Diễm – chức vụ: Tổng giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: ông Diệp Lâm Kỳ Phương – chức vụ: Giám đốc Sacombank - chi nhánh thành phố Bạc L, tỉnh Bạc L. (theo văn bản ủy quyền số 3270/2022/QĐ-PL ngày 26/12/2022). Ông Diệp Lâm Kỳ Phương ủy quyền lại cho ông Nguyễn Thanh Phương – Chức vụ: Chuyên viên quản lý nợ - Sacombank

- chi nhánh thành phố Bạc L, tỉnh Bạc L (theo văn bản ủy quyền số 1033/2023/GUQ-CNBL ngày 23/10/2023). (vắng mặt)

- Bị đơn: Ông Ngụy Trung T, sinh năm 1997; Trú tại: Số 4/175, Khóm 7, Phường 5, thành phố Bạc L, tỉnh Bạc L. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 23/10/2023 và các lời khai trong quá trình tố tụng, đại diện theo ủy quyền Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương T trình bày: Ngày 15/06/2020, Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương T (sau đây viết tắt là ngân hàng) cho ông Ngụy Trung T vay số tiền 30.000.000 đồng theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 5776141 (áp dụng cho chủ thẻ là Khách hàng cá nhân), Lãi suất cho vay trong hạn 31,2%/năm. Lãi suất quá hạn bằng 1,5 lần lãi suất trong hạn (bằng 150% lãi suất trong hạn); Hình thức vay không có tài sản đảm bảo, mục đích vay tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông Ngụy Trung T đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 35.005.000 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến ngày 12/10/2023 ông Tính đã thanh toán cho ngân hàng được số tiền là 30.529.438 đồng. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông Tính không có thiện chí trả nợ nên ngày 22/03/2023 ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn.

Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Ngụy Trung T phải thanh toán cho ngân hàng tổng số tiền nợ vay tính đến ngày 15/01/2024 là 47.401.645 đồng (trong đó nợ gốc là 33.534.623 đồng, tiền lãi quá hạn 13.867.022 đồng) và tiền lãi phát sinh từ ngày 16/01/2024 đến khi ông Tính trả hết nợ cho Ngân hàng theo lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng.

Bị đơn ông Ngụy Trung T vắng mặt tại phiên tòa. Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng nhưng bị đơn ông Ngụy Trung T không đến Tòa án tham gia tố tụng hoặc gửi văn bản trình bày ý kiến, yêu cầu của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc L phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử: Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, từ khi thụ lý đến phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Sài gòn Thương T đối với ông Ngụy Trung T, buộc ông Tính có trách nhiệm trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương T số tiền nợ tính đến ngày 15/01/2024 là 47.401.645 đồng (trong đó nợ gốc là 33.534.623 đồng, tiền lãi quá hạn 13.867.022 đồng) và tiền lãi phát sinh từ ngày 16/01/2024 đến khi ông Tính trả hết nợ cho Ngân hàng theo lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương T khởi kiện yêu cầu ông Ngụy Trung T trả số tiền nợ vay còn thiếu theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 5776141 (áp dụng cho chủ thẻ là Khách hàng cá nhân) đã ký kết giữa hai bên nên đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”; Nơi cư trú của ông Ngụy Trung T tại số 4/175, Khóm 7, Phường 5, thành phố Bạc L, tỉnh Bạc L nên Tòa án nhân dân thành phố Bạc L, tỉnh Bạc L thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ theo khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn.

Bị đơn ông Ngụy Trung T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ theo điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn ông Tính.

[2] Về nội dung vụ án:

Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 5776141 (áp dụng cho chủ thẻ là Khách hàng cá nhân) ngày 15/06/2020 thể hiện nguyên đơn cho bị đơn vay số tiền 30.000.000 đồng, lãi suất cho vay trong hạn 31,2%/tháng, lãi suất quá hạn bằng 1,5 lần lãi suất trong hạn (bằng 150% lãi suất trong hạn), mục đích vay tiêu dùng cá nhân; Hình thức vay không có tài sản đảm bảo. Hợp đồng tín dụng được các bên tự nguyện ký kết, hình thức, nội dung thỏa thuận của các bên là phù hợp, không trái quy định pháp luật.

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xác định từ ngày nhận nợ đến nay ông Ngụy Trung T chỉ trả được tổng số tiền là 30.529.438 đồng.

Quá trình chuẩn bị xét xử, Tòa án đã thực hiện việc tống dạt các văn bản tố tụng và triệu tập bị đơn để giải quyết vụ án nhưng họ vắng mặt được xem là đã từ bỏ quyền, nghĩa vụ tham gia tố tụng của mình.

Xét thấy, khách hàng vay ông Ngụy Trung T đã vi phạm hợp đồng, không thực hiện đúng thỏa thuận trả nợ đã giao kết trong hợp đồng nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Tính trả nợ vay theo hợp đồng tín dụng với tổng số tiền nợ tính đến ngày 15/01/2024 là 47.401.645 đồng (trong đó nợ gốc là 33.534.623 đồng, tiền lãi quá hạn 13.867.022 đồng) và tiền lãi phát sinh từ ngày 16/01/2024 đến khi ông Tính trả hết nợ cho Ngân hàng theo lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc L tại phiên tòa về việc tuân theo pháp luật tố tụng và quan điểm giải quyết vụ án phù hợp với đánh giá, nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận toàn bộ.

[4] Về án phí: Áp dụng Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: ông Ngụy Trung T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần yêu cầu của nguyên đơn đối với bị đơn được Tòa án chấp nhận là 2.370.082 đồng; Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương T không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Căn cứ Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 và khoản 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Căn cứ Điều 91; điểm a khoản 3 Điều 98 của Luật các tổ chức tín dụng; Điều 463, Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương T.

- Buộc ông Ngụy Trung T có trách nhiệm trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương T số tiền tính đến ngày 15/01/2024 là 47.401.645 đồng (Bốn mươi bảy triệu, bốn trăm lẻ một nghìn sáu trăm bốn mươi lăm đồng), trong đó nợ gốc là 33.534.623 đồng, tiền lãi quá hạn 13.867.022 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp, trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

2. Về án phí:

- Ông Ngụy Trung T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 2.370.082 đồng.

- Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương T không phải chịu án phí. Hoàn trả lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương T số tiền 1.074.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002123 ngày 07 tháng 11 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bạc L, tỉnh Bạc L.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 của Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án Dân sự.

3. Về kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định. Nơi nhận:

- TAND tỉnh Bạc Liêu;

Cỡ chữ