- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bưu điện L V.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ BỒNG TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2024/DS-ST Ngày: 10-01-2024 V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG H XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ BỒNG, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Minh Thuận
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Nương
2. Bà Ngô Thị Bích Hải
- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Văn Trúc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trà Bồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Bồng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hi Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 01 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Trà Bồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 15/2023/TLST-DS ngày 21 tháng 4 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1095/2023/QĐXXST - DS ngày 28 tháng 11 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên toà số 1138/2023/QĐST-DS ngày 20 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bưu điện L V.
Địa chỉ: Tòa nhà Thaiholdings Tower, số 210 T Q K, quận H K, thành phố H N.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Hồ Nam T – Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Thanh N – Giám đốc Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bưu điện L V, chi nhánh D Q. Ông Lê Thanh N ủy quyền lại cho ông Nguyễn Tấn T – Giám đốc Phòng Giao dịch huyện Trà Bồng, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bưu điện L V. Địa chỉ: Thị trấn Trà X, huyện Trà B, tỉnh Quảng Ngãi.
Bị đơn: Anh Nguyễn Hồng H, sinh năm 1985 và chị Đỗ Thị Thanh N, sinh năm 1985. Cùng địa chỉ: Tổ 13, thôn Trường G, xã Trà T, huyện Trà B, tỉnh Quảng Ngãi.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1965 và anh Nguyễn Thanh N, sinh năm 1987. Cùng địa chỉ: Xóm 2, thôn Minh M, xã Tịnh B, huyện Sơn T, tỉnh Quảng Ngãi.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện đề ngày 28/11/2022, bản tự khai ngày 28/11/2022, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 02/7/2020, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bưu điện L V (sau đây gọi là: Ngân hàng L V) có cho anh Nguyễn Hồng H và chị Đỗ Thị Thanh N vay số tiền: 340.000.000 đồng, với mục đích cho vay: mua ô tô làm phương tiện đi lại cá nhân, thời hạn vay: 72 tháng, theo Hợp đồng tín dụng số: HDTD88B202085.
Ngày 08/02/2021, Ngân hàng L V có cho anh Nguyễn Hồng H và chị Đỗ Thị Thanh N vay số tiền: 8.500.000 đồng, với mục đích cho vay: mua sắm trang thiết bị nội thất gia đình, thời hạn vay: 12 tháng, theo Hợp đồng tín dụng số: HDTD88B202131.
Để đảm bảo cho các khoản vay trên, anh Nguyễn Hồng H, chị Đỗ Thị Thanh N có lập hợp đồng thế chấp số 85/2020/HĐTC/PGDTraBong ngày 02/7/2020, tài sản thế chấp gồm: Xe ô tô mang biển số 76A-126.29 do Phòng Cảnh sát giao thông, Công An tỉnh Quảng Ngãi cấp ngày 01/07/2020 và được đăng ký giao dịch đảm bảo tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại thành phố Đà Nẵng ngày 02/07/2020.
Quá trình thực hiện hợp đồng, anh H, chị N đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, tính đến ngày 02/7/2021 các khoản nợ đã chuyển sang quá hạn. Hiện nay, tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm (ngày 10/01/2024), anh H, chị N còn nợ Ngân hàng L V số tiền như sau:
- Theo Hợp đồng tín dụng số HDTD88B202085 ngày 02/07/2020 tính đến ngày 10/01/2024 với số tiền nợ gốc: 287.969.821 đồng, lãi trong hạn 81.660.737 đồng, lãi quá hạn 53.439.211 đồng. Tổng cộng cả gốc và lãi: 423.069.769 đồng.
- Theo Hợp đồng tín dụng số HDTD88B202131 ngày 08/02/2021 tính đến ngày 10/01/2024 với số tiền nợ gốc: 8.500.000 đồng, lãi trong hạn 643.379 đồng, lãi quá hạn 3.281.718 đồng. Tổng cộng cả gốc và lãi: 12.425.097 đồng.
Nay Ngân hàng L V yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Trà Bồng giải quyết: Buộc anh Nguyễn Hồng H, chị Đỗ Thị Thanh N phải trả nợ cho Ngân hàng L V với số tiền: Theo Hợp đồng tín dụng số HDTD88B202085 ngày 02/07/2020 tính đến ngày 10/01/2024 với số tiền nợ gốc: 287.969.821 đồng, lãi trong hạn 81.660.737 đồng, lãi quá hạn 53.439.211 đồng. Tổng cộng cả gốc và lãi: 423.069.769 đồng; theo Hợp đồng tín dụng số HDTD88B202131 ngày 08/02/2021 tính đến ngày 10/01/2024 với số tiền nợ gốc: 8.500.000 đồng, lãi trong hạn 643.379 đồng, lãi quá hạn 3.281.718 đồng. Tổng cộng cả gốc và lãi: 12.425.097 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày 10/01/2024, anh Nguyễn Hồng H, chị Đỗ Thị Thanh N còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số HDTD88B202085 ngày 02/07/2020, HDTD88B202131 ngày 08/02/2021 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
Trường hợp anh Nguyễn Hồng H, chị Đỗ Thị Thanh N không trả được nợ thì Ngân hàng L V có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp (yêu cầu phát mại) để thu hồi nợ, theo Hợp đồng thế chấp xe Ô tô mang biển số 76A- 126.29 do Phòng Cảnh sát giao thông, Công An tỉnh Quảng Ngãi cấp ngày 01/07/2020 và được đăng ký giao dịch tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại thành phố Đà Nẵng ngày 02/07/2020.
Trường hợp sau khi xử lý tài sản thế chấp mà không đủ thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì anh Nguyễn Hồng H, chị Đỗ Thị Thanh N có trách nhiệm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng L V cho đến khi tất toán toàn bộ khoản vay.
Tại bản tự khai ngày 20/12/2023, và tại phiên tòa bị đơn anh Nguyễn Hồng H trình bày:
Anh H thống nhất với lời khai của nguyên đơn. Anh đồng ý anh và chị N có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng L V với số tiền: Theo Hợp đồng tín dụng số HDTD88B202085 ngày 02/07/2020 tính đến ngày 10/01/2024 với số tiền nợ gốc: 287.969.821 đồng, lãi trong hạn 81.660.737 đồng, lãi quá hạn 53.439.211 đồng. Tổng cộng cả gốc và lãi: 423.069.769 đồng; theo Hợp đồng tín dụng số HDTD88B202131 ngày 08/02/2021 tính đến ngày 10/01/2024 với số tiền nợ gốc: 8.500.000 đồng, lãi trong hạn 643.379 đồng, lãi quá hạn 3.281.718 đồng. Tổng cộng cả gốc và lãi: 12.425.097 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày 10/01/2024, anh và chị Đỗ Thị Thanh N còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số HDTD88B202085 ngày 02/07/2020, HDTD88B202131 ngày 08/02/2021 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
Trường hợp anh và chị Đỗ Thị Thanh N không trả được nợ thì Ngân hàng L V có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp (yêu cầu phát mại) để thu hồi nợ, theo Hợp đồng thế chấp xe Ô tô mang biển số 76A- 126.29 do Phòng Cảnh sát giao thông, Công An tỉnh Quảng Ngãi cấp ngày 01/07/2020 và được đăng ký giao dịch tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại thành phố Đà Nẵng ngày 02/07/2020.
Trường hợp sau khi xử lý tài sản thế chấp mà anh và chị N không đủ thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì anh và chị Đỗ Thị Thanh N có trách nhiệm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng L V cho đến khi tất toán toàn bộ khoản vay.
Đối với số tiền 150.000.000 đồng, anh Nguyễn Hồng H khai có vay tiền của bà Nguyễn Thị K số tiền 150.000.000 đồng và có để lại xe ô tô biển số 76A-126.29 tại nhà bà Nguyễn Thị K.
Chị Đỗ Thị Thanh N: Quá trình giải quyết vụ án, chị N đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng chị N vắng mặt, không có lý do nên không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện và không cung cấp được tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.
Tại Biên bản lấy lời khai ngày 12/7/2023, 17/10/2023, Biên bản làm việc ngày 08/01/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị K, anh Nguyễn Thanh N trình bày như sau:
Anh Nguyễn Hồng H có vay của bà Nguyễn Thị K số tiền 150.000.000 đồng, sau đó có để xe lại nhờ tại nhà bà Nguyễn Thị K, anh N có sử dụng xe và xe bị hư nên để tại Gara tại Gia Lai, trước khi sử dụng xe và khi xe bị hư anh N có điện thoại thông báo cho anh Nguyễn Hồng H biết. Việc Ngân hàng L V khởi kiện yêu cầu anh H, bà N trả nợ cho Ngân hàng và xử lý tài sản bảo đảm, bà K, anh N không liên quan. Tuy nhiên, bà K, anh N tự nguyện phối hợp cung cấp địa chỉ và giao xe lại để xử lý theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của Kiểm sát viên: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, đương sự: Đúng theo quy định của pháp luật; Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 280, 299, 307, 308, 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự; các Điều 91, 95, 98 của Luật các Tổ chức tín dụng Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Bưu điện L V.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật: Đây là tranh chấp về dân sự phát sinh theo thỏa thuận giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bưu điện L V và anh Nguyễn Hồng H và chị Đỗ Thị Thanh N về hợp đồng tín dụng giữa cá nhân và tổ chức tín dụng. Do vậy, quan hệ pháp luật được xác định là “ Tranh chấp hợp đồng tín dụng” là đúng quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền: Đây là tranh chấp về dân sự giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bưu điện L V và bị đơn là anh Nguyễn Hồng H, chị Đỗ Thị Thanh N, đều có địa chỉ tại huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi. Tòa án nhân dân huyện Trà Bồng thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 35, điểm a, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc xét xử vắng mặt bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ tất cả các Thông báo, Giấy triệu tập cho bị đơn chị Đỗ Thị Thanh N, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Do vậy, Tòa án nhân dân huyện Trà Bồng tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là đúng quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc anh Nguyễn Hồng H, chị Đỗ Thị Thanh N phải trả nợ cho Ngân hàng L V với số tiền:
Theo Hợp đồng tín dụng số HDTD88B202085 ngày 02/07/2020 tính đến ngày 10/01/2024 với số tiền nợ gốc: 287.969.821 đồng, lãi trong hạn 81.660.737 đồng, lãi quá hạn 53.439.211 đồng. Tổng cộng cả gốc và lãi: 423.069.769 đồng; theo Hợp đồng tín dụng số HDTD88B202131 ngày 08/02/2021 tính đến ngày 10/01/2024 với số tiền nợ gốc: 8.500.000 đồng, lãi trong hạn 643.379 đồng, lãi quá hạn 3.281.718 đồng. Tổng cộng cả gốc và lãi: 12.425.097 đồng.
Xét giao dịch dân sự giữa Ngân hàng L V và anh Nguyễn Hồng H, chị Đỗ Thị Thanh N được xác lập trên cơ sở tự nguyện, chủ thể có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự; mục đích và nội dung giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, giao dịch dân sự được xác lập bằng văn bản nên giao dịch dân sự này có hiệu lực pháp luật theo quy định tại Điều 117 của Bộ luật Dân sự, hợp đồng tín dụng được ký kết giữa Ngân hàng L V và anh Nguyễn Hồng H, chị Đỗ Thị Thanh N là phù hợp với Điều 463, Điều 466 của Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng, quá trình thực hiện hợp đồng anh H, chị N vi phạm hợp đồng, vi phạm nghĩa vụ của bên vay. Do đó, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng L V là có căn cứ cần được chấp nhận.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày 10/01/2024, anh Nguyễn Hồng H, chị Đỗ Thị Thanh N còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số HDTD88B202085 ngày 02/07/2020, HDTD88B202131 ngày 08/02/2021 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc xử lý tài sản bảo đảm:
Trường hợp anh Nguyễn Hồng H, chị Đỗ Thị Thanh N không trả được nợ thì Ngân hàng L V có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ, theo Hợp đồng thế chấp đã kí kết: Hội đồng xét xử thấy rằng: Để đảm bảo cho các hợp đồng tín dụng anh H, chị N đã kí kết Hợp đồng thế chấp xe Ô tô mang biển số 76A- 126.29 do Phòng Cảnh sát giao thông, Công An tỉnh Quảng Ngãi cấp ngày 01/07/2020; Đăng ký lần đầu ngày 01/07/2020 và được đăng ký giao dịch tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại thành phố Đà Nẵng ngày 02/07/2020 theo đúng quy định của pháp luật.
Do đó, hợp đồng thế chấp có hiệu lực và yêu cầu của nguyên đơn phù hợp với quy định tại các Điều 317, 318, 319 của Bộ luật Dân sự và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng.
Trường hợp sau khi xử lý tài sản thế chấp mà không đủ thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì anh Nguyễn Hồng H, chị Đỗ Thị Thanh N có trách nhiệm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng L V cho đến khi tất toán toàn bộ khoản vay.
Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Đối với số tiền 150.000.000 đồng mà bà Nguyễn Thị K đã cho anh Nguyễn Hồng H vay, bà Nguyễn Thị K có thể khởi kiện thành một vụ án khác và Tòa án sẽ xem xét khi có đơn khởi kiện.
Đối với chiếc xe ô tô mang biển số kiểm soát 76A- 126.29, Tòa án đã tiến hành xác minh tại Công an xã Trà T, Công an xã Tịnh Bắc và có kết quả, xe ô tô mang biển số 76A- 126.29 không có tại xã Trà T, không có tại nhà bà K, phù hợp với lời khai của bị đơn anh Nguyễn Hồng H và bà Nguyễn Thị K, anh Nguyễn Thanh N. Ngày 08/01/2024, anh Nguyễn Thanh N và bà Nguyễn Thị K có làm việc với Tòa án tự nguyện phối hợp cung cấp địa chỉ và giao xe lại để xử lý theo quy định của pháp luật. Do đó, cần được Toà án ghi nhận.
Ý kiến của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí: Anh Nguyễn Hồng H, chị Đỗ Thị Thanh N phải chịu 21. 419.795 đồng án phí theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147, 227, 228, 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 317, 318, 319, 463 và Điều 466 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ Điều 91, Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng;
Căn cứ Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bưu điện L V.
Tuyên xử:
1. Buộc anh Nguyễn Hồng H, chị Đỗ Thị Thanh N phải trả nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bưu điện L V tính đến ngày 10/01/2024 với số tiền nợ gốc: 287.969.821 đồng, lãi trong hạn 81.660.737 đồng, lãi quá hạn 53.439.211 đồng, tổng cộng cả gốc và lãi: 423.069.769 đồng (Theo Hợp đồng tín dụng số HDTD88B202085 ngày 02/07/2020) và số tiền nợ gốc: 8.500.000 đồng, lãi trong hạn 643.379 đồng, lãi quá hạn 3.281.718 đồng, tổng cộng cả gốc và lãi: 12.425.097 đồng (theo Hợp đồng tín dụng số HDTD88B202131 ngày 08/02/2021). Tổng cộng cả gốc và lãi của hai khoản vay: 435.494.866 đồng (bốn trăm ba mươi lăm triệu, bốn trăm chín mươi bốn nghìn, tám trăm sáu mươi sáu đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày 10/01/2024, anh Nguyễn Hồng H, chị Đỗ Thị Thanh N còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số HDTD88B202085 ngày 02/07/2020, HDTD88B202131 ngày 08/02/2021 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
2. Trường hợp anh Nguyễn Hồng H, chị Đỗ Thị Thanh N không trả được nợ thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bưu điện L V có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp (yêu cầu phát mại) để thu hồi nợ, theo Hợp đồng thế chấp xe Ô tô mang biển số 76A- 126.29 do Phòng Cảnh sát giao thông, Công An tỉnh Quảng Ngãi cấp ngày 01/07/2020; Đăng ký lần đầu ngày 01/07/2020 và được đăng ký giao dịch tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại thành phố Đà Nẵng ngày 02/07/2020. Đặc điểm tài sản thế chấp: Họ và tên chủ xe: Nguyễn Hồng H. 1985. Địa chỉ: Thôn Trường G, xã Trà T, huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi; Nhãn hiệu ô tô: HUYNDAI; Số khung: 41BALN035245; Số máy: G4LCLU348590; Năm, nước sản xuất: 2020, Việt Nam; Biển số: 76A-126.29; Màu xe: Trắng; Chỗ ngồi: 05.
Trường hợp sau khi xử lý tài sản thế chấp mà không đủ thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì anh Nguyễn Hồng H, chị Đỗ Thị Thanh N có trách nhiệm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bưu điện L V cho đến khi tất toán toàn bộ khoản vay.
3. Ghi nhận bà Nguyễn Thị K, anh Nguyễn Thanh N về việc tự nguyện cung cấp địa chỉ hiện nay để xe ô tô 76A- 126.29 và giao xe ô tô biển số kiểm soát mang biển số 76A- 126.29 đứng tên chủ sở hữu anh Nguyễn Hồng H trong trường hợp xử lý tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật.
4. Về án phí:
Anh Nguyễn Hồng H, chị Đỗ Thị Thanh N phải chịu 21. 419.795 đồng (hai mươi mốt triệu, bốn trăm mười chín nghìn, bảy trăm chín lăm đồng) án phí theo quy định của pháp luật.
Hn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bưu điện L V số tiền 9.095.277 đồng (chín triệu, không trăm chín mươi lăm nghìn, hai trăm bảy mươi bảy đồng) do đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm (do anh Trương Triệu Nguyên nộp thay), theo biên lai số 0000541 ngày 21/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trà Bồng.
5. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với các đương sự không có mặt tại phiên tòa hoặc vắng mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Q.Ngãi; - VKSND huyện Trà Bồng; - Chi cục THADS huyện Trà Bồng; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thị Minh Thuận |