vanban.org

Bản án 01/2023/HSST — Hình sự

TAND TX. Sơn Tây, TP. Hà Nội Tuyên án 09/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản anh H - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Căn cứ chính? Điều 155 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!!
!
THỊ!XÃ!SƠN!TÂY!
THÀNH!PHỐ!HÀ!NỘI!

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: /2023/HSST
Ngày 09/01/2023.
!
!

NHÂN!DANH!!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!N!

!

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:

+ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lã Hùng Cường

+ Các Hội thẩm nhân dân:

!Bà Trần Thị Huệ.

Bà Nguyễn Thị Thi.

Đại diện Viện kiểm sát nhân thị xã Sơn Tây tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Minh Thuận - Kiểm sát viên sơ cấp. Thư ký phiên tòa: Ông Lương Ngọc Thắng – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây.

Ngày 28 tháng 4 năm 2022 tại phòng xử án hình sự Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội. Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội tiến hành mở phiên tòa sơ thẩm công khai xét xử vụ án hình sự thụ lý số: 23/2022/HSST ngày 31 tháng 3 năm 2022 đối với bị cáo Trương! Văn! N, sinh năm 1992; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn T, xã L, thị xã Sơn Tây, t.p Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Quốc tịch: Việt N; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Trương Văn V (đã chết); Con bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1966 ; Địa chỉ: Thôn T, xã L, t.x Sơn Tây, t.p Hà Nội; Vợ: Bạch Thị Thu H, sinh năm 1997 (đã ly hôn); Con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo N bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/01/2022, hiện đang tạm giam tại Trại giam số 01- CATP Hà Nội.

Có mặt tại phiên tòa.

Người!bị!hại:!!

Chị Bạch Thị Thu H, sinh năm 1997. Nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã L, thị xã Sơn Tây, t.p Hà Nội . Tạm trú tại : Số nhà X, ngõ H, pH Q, thị xã Sơn Tây, t.p Hà Nội.

( Có mặt tại phiên tòa) .

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN!

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1

Ngày 06/3/2018, chị Bạch Thị Thu H - sinh năm 1997 ở Ba Trại- Ba Vì kết hôn với anh Trương Văn N- sinh năm 1992 ở thôn T-xã L- TX Sơn Tây và sinh sống cùng gia đình N. Đến tháng 7/2020, hai vợ chồng N chuyển ra ở trọ tại nhà của bà Phan Thị Kim D- sinh năm 1960 ở số X- ngõ M- pH Q- TX Sơn Tây. Trong quá trình chung sống, hai vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn, cãi nhau và chị H có ý định ly hôn. Trương Văn N nghĩ đến việc sẽ quay video clip khỏa thân của chị H để khống chế ý định đòi ly hôn của chị H.

Thời điểm tháng 8/2020, N đã mua 01 cốc chè thập cẩm rồi giã nhỏ 01 viên thuốc cho vào cốc chè. Khi chị H đi làm về thì N đưa cốc chè đó cho chị H ăn. Một lúc thì buồn ngủ và ngủ thiếp đi, N đã cởi quần dài, quần lót của chị H ra rồi dùng điện thoại di động của mình nhãn hiệu Vsmart màu đen- trắng, quay 02 video clip, trong đó có 01 video thời lượng 03 phút, 01 video thời lượng 02 phút có các hình ảnh N dùng tay sờ bên ngoài âm đạo, vú, đưa một ngón tay vào trong âm đạo của chị H. Sau đó N mặc quần lại cho chị H như bình thuờng.

Khoảng 03 ngày sau, N lại mua 02 cốc trà sữa rồi giã nhỏ 1,5 viên thuốc Rotundin cho vào 01 cốc. Khi chị H đi làm về thì N đưa cho chị H uống cốc nước đã pha thuốc. Chị H ngủ say, N cởi quần chị H ra và tiếp tục sử dụng chiếc điện thoại di động quay được 03 video clip có các hình ảnh N dùng tay sờ bên ngoài âm đạo, vú, đưa một ngón tay vào trong âm đạo; dùng dương vật cọ sát bên ngoài âm đạo, vú, miệng; dùng miệng hôn âm đạo, vú chị H và mặc lại quần cho chị H.

Sáng ngày hôm sau chị H mệt không đi làm được, ở nhà ngủ thì N tiếp tục cởi quần chị H ra dùng điện thoại quay tiếp được 02 video clip có các hình ảnh như trên.

Đến tháng 11/2020, chị H làm đơn xin ly hôn N. Ngày 26/01/2021, TAND TX Sơn Tây đã ra Quyết định số 06/2021/QĐST-HN&GĐ công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự giữa chị H và N.

Đến tháng 02/2021, N về nhà mẹ đẻ tại thôn T, xã L sống, chị H ở tại phòng trọ. Trương Văn N tìm mọi cách níu kéo tình cảm và đề nghị chị H quay lại nhưng chị H không đồng ý.

Ngày 19/4/2021, Trương Văn N đã chia 07 video clip nêu trên thành 16 video clip với thời lượng ngắn hơn khác nhau rồi sử dụng tài khoản facebook tên “N còii” hoặc tài khoản “Tre trâu” nhắn tin qua ứng dụng messenger đến tài khoản facebook “Thu Hương” của chị H với nội dung: E sẽ được sáng nhất face; Tôi mất em. Thì em cũng đéo có được hạnh phúc đâu, kèm theo 16 video clip. Chị H xem xong, không biết N đã quay hình ảnh chị như vậy khi nào. N đe dọa chị nếu không quay lại sẽ gửi các video clip này cho các bạn bè để chị phải xấu hổ, nhục nhã nhưng chị H vẫn kiên quyết không đồng ý quay lại và chặn nick facebook của N.

Đến tháng 5/2021, chị H có quan hệ tình cảm với anh Bạch Công T, sinh năm 1992, ở Thôn 9 xã T, huyện V, Hà Nội thì Trương Văn N cũng lập và sử dụng tài khoản facebook “Phùng Tiến” tham gia vào nhóm “Hội đồng hương Ba Vì” do anh Phùng Quý L- sinh năm 1993, ở Thôn L, xã Đ, huyện Ba Vì, Hà Nội sử dụng tài khoản Facebook “Phùng Quý Rừng” lập vào đầu năm 2020, có 1.300 thành viên. Nhóm này không bắt buộc các thành viên đăng bài phải được duyệt mà tự các thành viên ai muốn đăng bài thì tự đăng lên nhóm, không có sự kiểm duyệt của quản trị viên.

2

Ngày 26/6/2021, N có đăng 03 bài viết với nội dung: “E lại đẹp và sáng nhất người Ba Vì rồi. Lại là người nổi tiếng nhất Facebook rồi. Link đẹp ae quan tâm inbok m gửi link”, “E lại là người nổi tiếng Ba Vì rồi. Ai muốn xem link e này k. Người Ba Vì ibos e gửi link” và “Có ai nhận ra e Ba Vì này không. E là người rạng rỡ nhất Ba Vì rồi. Tboos. Mình gửi link”.

Sau đó các thành viên trong nhóm bình luận, nhắn tin xin video clip thì N đã gửi 02 video clip, 01 ảnh mặt chị H qua ứng dụng messenger đến các tài khoản:

1. “Cỏ Dại” của anh Phương Năng H, sinh năm: 1990, trú tại: Đội X, xã M, huyện Ba Vì.

2. “Thắng Núi” của anh Đặng Thế T, sinh năm: 1985, trú tại: Thôn k, xã L, huyện Ba Vì.

3. “Công Tử Huệ” của anh Bạch Công H, sinh năm: 1987, trú tại: Thôn T, xã L, huyện Ba Vì.

4. “Tươi Đặng” của chị Đặng Thị T, sinh năm: 1990, trú tại: Thôn X xã T, huyện V.

5. “Cường Biin” của anh Phương Văn C, sinh năm” 2003, trú tại: Thôn B, xã T, huyện Ba Vì.

Ngoài ra còn các tài khoản khác nhưng không xác định được lý lịch là: Nguyễn Khuyến, Kiên Sói, Phạm Thắng, Nguyễn Văn Trình, Trương Văn Lộc, Truong Danh Tien, Duy Bui, Nguyễn Quang Vinh.

Đến ngày 28/6/2021, N sử dụng nick facebook “Phùng Tiến” tiếp tục gửi 02 video clip và 01 ảnh trong số 16 video clip nhạy cảm N quay trên cho những người bạn của chị H trên facebook, cụ thể:

1. “Đoàn Điền” của anh Đoàn Văn Đ, sinh năm: 1994, trú tại: Thôn 7 xã T, huyện V, Hà Nội.

2. “Kiều Ngọc Ánh” của chị Kiều Thị Ngọc A, sinh năm: 1992, trú tại: Thôn 1 xã T, huyện V.

3. “Hải Yến” của chị Đinh Thị Hải Y, sinh năm: 1997, trú tại: Thôn D, xã Q, huyện Ba Vì.

4. “Hưng Đặng” của anh Đặng Văn H, sinh năm: 1997, trú tại: Thôn 1, xã T, huyện V.

5. “Nguyễn Nhung” của chị Nguyễn Thị N, sinh năm: 1991, trú tại: Thôn N, xã T, huyện V.

6. “Hoang Tin Tin” của anh Đinh Văn H, sinh năm: 1994, trú tại: Thôn 9 xã T, huyện V.

7. “Ngô Bí” và “Phương Thu” của chị Nguyễn Hoài P, sinh năm: 1997, trú tại: Thôn B, xã Y, huyện Ba Vì.

8. “Tiến Nghiệp Nhôm Kính” của anh Nguyễn Tiến N, sinh năm: 1988, trú tại: Thôn 9, xã T, huyện V.

9. “Khuất Thị Ngọc Ánh” Khuất Thị Ngọc A sinh năm: 2003, trú tại: Thôn 9, xã T, huyện V.

3

10. “Minh Ánh” Chị Bạch Minh A, sinh năm: 1997, trú tại: Xóm M, xã B, huyện Ba Vì.

11. “Voi Lâm” của anh Nguyễn Ngọc L, sinh năm: 1995, trú tại: Thôn S, xã L, huyện Ba Vì.

12. “Khuất Thị Phương Thảo” của chị Khuất Thị Phương T, sinh năm: 1997, trú tại: Thôn 9, xã T, Ba Vì. Hiện đang sống tại Hungary.

13. “Đăng khoa Phạm” của anh Pham Đăng K, sinh năm: 1997, trú tại: Thôn T, xã L, huyện Ba Vì.

14. “Thiệp Phùng Chipi” của anh Phùng Thanh T, sinh năm: 1993, trú tại: Thôn T, xã L, huyện Ba Vì. Hiện đang sinh sống tại thôn L, xã Đ, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước.

15. “Khuất tuấn” của anh Khuất Văn T, sinh năm: 1996, trú tại: Thôn 9, xã T, huyện V. Hiện đang ở thôn K, xã H, huyện An Dương, Hải Phòng.

16. “Ngựa Chiến” của anh Trần Mạnh H, sinh năm: 1985, trú tại: Thôn 2, xã M, huyện Ba Vì.

17. “Giau Lam Quyet” của anh Hoàng Công T, sinh năm: 1994, trú tại: Thôn 9, xã T, huyện V.

18. “Huan Ngoc Nguyên” của anh Nguyễn Ngọc H, sinh năm: 1984, trú tại: Thôn 9, xã T, huyện V.

19. “Tươi Nguyễn” của chị Nguyễn Thị T, sinh năm: 1984, trú tại: Thôn B, xã Q, huyện Ba Vì.

20. Một tài khoản tên người nước ngoài, không xác định được lý lịch.

Sau khi nhận được nhận tin nhắn từ nick “Phùng Tiến” gửi, các nick facebook “Khuất Thị Phương Thảo”; “Hải Yến”; “Ngựa Chiến”; “Sói Kiên”- đều là những người bạn của chị H đã gửi lại cho chị H và hỏi chị H, lúc này chị H mới biết là N đã gửi các video trên đến các bạn trên Facebook của chị H. Chị H không biết N đã gửi cho những ai và thấy rất xấu hổ, hoang mang lo sợ và cảm thấy bị xúc phạm nghiêm trọng đến danh dự của mình nên rất bi quan muốn tự tử.

Tối ngày 29/6/2021, lo sợ chị H có ý định tự tử nên anh Tuyên đã nhờ chị Đinh Thị Huệ, sinh năm: 1998, trú tại: Thôn Dy, xã Minh Quang, huyện Ba Vì là bạn của chị H đến phòng trọ ngủ cùng động viên chị H. Bà Khuất Thị Khai, sinh năm: 1966, trú tại: Thôn 9 xã T, huyện V là mẹ đẻ của chị H sau khi biết sự việc cũng tH xuyên quan tâm động viên nên chị H đã bình tĩnh trở lại và gửi đơn tố giác hành vi vi phạm pháp luật của Trương Văn N và có đơn đè nghị CQĐT- CATX Sơn Tây khởi tố vụ án và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với N về hành vi làm nhục người khác.

Tại CQĐT- CATX Sơn Tây, chị H đã giao nộp 01 USB, lưu 16 video clip do chị H copy từ những tin nhắn của Trương Văn N gửi đến ứng dụng Messenger. Video có thời lượng ngắn nhất là 35 giây, video dài nhất có thời lượng 10 phút. Trong 16 video trên, có 02 video chị H bị quay khi mặc áo ngắn tay màu đen; 01 video mặc áo dài tay màu vàng; 08 video mặc áo phông ngắn tay màu be; 01 video mặc áo ngắn tay màu tím, cụ thể như sau:

4

1. Video 1: 35 giây có hình ảnh, không có âm thanh, ghi nhận hình ảnh một bàn tay không xác định được tay của ai đang đặt vào dương vật của một người đàn ông, có một bàn tay khác nắm bên ngoài để tác động vào dương vật.

2. Video 2: 40 giây, chỉ có hình ảnh, không có âm thanh, có một người phụ nữ đang nằm bất động, đầu gối lên một chiếc gối màu vàng, chỉ mặc áo cộc tay màu đen, không mặc quần nằm quay lưng lại, một người không rõ mặt dùng tay nắn mông và dương vật cọ vào âm đạo của người phụ nữ từ phía sau.

3. Video 3: 03 phút 14 giây, có một người phụ nữ mặc áo dài tay màu vàng đang nằm bất động xác định là chị Bạch Thị Thu H, có một người không rõ mặt dùng tay vén áo và xoa ngực chị H.

4. Video 4: 02 phút 10 giây, người phụ nữ đang nằm bất động, mặc áo màu nâu không mặc quần là chị Bạch Thị Thu H, có một người không rõ mặt kéo áo để lộ ngực, dùng tay sờ ngực và bộ phận sinh dục của chị H.

5. Video 5: 01 phút 05 giây, xuất hiện hình ảnh một người phụ nữ đang nằm bất động là chị Bạch Thị Thu H mặc áo màu nâu bị kéo lên để lộ ngực, có một người không rõ mặt dùng tày sờ và xoa bóp ngực của chị H.

6. Video 6: 16 giây có hình ảnh một phụ nữ xác định là chị Bạch Thị Thu H đang nằm bất động, mặc áo phông màu be bị kéo lên lộ ngực và áo lót màu đen, có một người là N giới dùng tay xoa bóp và dùng miệng ngậm đầu ngực của chị H, tại giây thứ 45 quay cận mặt người N giới. Chị H xác định người N giới xuất hiện trong Video là Trương Văn N.

7. Video 7: 01 phút 15 giây, xuất hiện trong vi deo là một người phụ nữ chỉ mặc áo phông màu be ngắn tay và quần lót màu đen xác định là chị Bạch Thị Thu H, có một người là N giới dùng tay sờ và dùng miệng hôn lên bộ phận sinh dục của chị H. Từ giây thứ 39 đến giây thứ 49 quay cận mặt người N giới. Chị H xác định người N giới xuất hiện trong video là anh Trương Văn N.

8. Video 8: 17 giây, xuất hiện trong vi deo xác định là chị Bạch Thị Thu H đang nằm bất động, mặc áo ngắn tay màu be, quần lót màu đen, áo đã bị kéo cao hở ngực.

9. Video 9: 01 phút 15 giây, xuất hiện trong video xác định là chị Bạch Thị Thu H, mặc áo ngắn tay màu be, quần lót màu đen, có một người đàn ông dùng tay sờ và miệng ngậm ngực chị H. Từ giây thứ 49 đến 59 quay cận mặt người đàn ông, chị H xác định người đàn ông trong vi deo là Trương Văn N.

10. Video 10: 10 phút, xuất hiện trong video là một người phụ nữ mặc áo phông màu đen, không mặc quần đang nằm nghiêng, đang ngủ xác định là chị Bạch Thị Thu H, có một người không rõ mặt dùng tay nắn và xoa mông của chị H.

11.Video 11: 22 giây, xuất hiện trong video là bộ phận sinh dục nữ, có một người dùng ngón tay trỏ cho vào bên trong âm đạo.

12. Video 12: 01 phút 04 giây, xuất hiện trong video xác định là chị Bạch Thị Thu H mặc áo phông ngắn tay màu tím, có một người đàn ông ghé sát người chị H, dùng tay kéo áo và sờ ngực của chị H. Từ giây thứ 16 đến giấy thứ 51 quay cận mặt người đàn ông, chị H xác định người đàn ông trên là Trương Văn N.

5

13. Video 13: 01 phút 18 giây, người phụ nữ xuất hiện trong video là chị Bạch Thị Thu H đang nằm ngủ, mặc áo phông màu cộc tay màu be, không mặc quần, có một bàn lay sờ và cho ngón tay vào âm đạo của chị H.

14. Video 14: 01 phút, có hình ảnh chị Bạch Thị Thu H chỉ mặc áo phông màu be, bên trong mặc áo lót màu đen, không mặc quần, có một người đàn ông dùng ngón tay trỏ cho vào bên trong âm đạo và dùng miệng hôn lên âm hộ của chị H, từ giây thứ 21 đến giây thứ 29 quay cận mặt xác định người đàn ông xuất hiện trong vi deo là anh Trương Văn N.

15. Video 15: 03 phút 34 giây, người xuất hiện trong video xác định là chị Bạch Thị Thu H mặc áo phông màu be, bị kéo lên bên trong mặc áo lót màu đen để lộ ngực, người đàn ông dùng miệng cắn và dùng tay xoa bóp ngực, chị H xác định là Trương Văn N.

16. Video 16: 03 phút 30 giây, xuất hiện trong video là hình ảnh chị Bạch Thị Thu H đang ngủ, mặc áo phông màu be bị kéo lên để lộ ngực và áo lót màu đen, người đàn ông cùng xuất hiện trong video đang dùng miệng hôn và dùng dương vật chà sát vào ngực chị H, chà dương vật lên miệng chị H, từ 01 phút 10 giây đến 01 phút 42 giây quay cận mặt người đàn ông, chị H xác định là Trương Văn N.

Quá trình xác minh, điều tra, Trương Văn N đã bỏ đi khỏi địa phương. Ngày 15/01/2022, CQĐT đã quyết định truy nã đối với N. Ngày 25/01/2022

N đã bị Phòng cảnh sát hình sự- CATP Hà Nội bắt theo quyết định truy nã khi đang ở huyện Văn Lâm- tỉnh Hưng Yên.

Tại CQĐT- CATX Sơn Tây, N đã khai nhận hành vi của mình như nội dung nêu trên. Mục đích N quay các video clip chị H là để níu kéo tình cảm vợ chồng, không muốn ly hôn. Nhưng chị H kiên quyết không quay lại, lại có bạn trai mới nên N đã đăng và gửi lên mạng xã hội facebook để cho chị H thấy xấu hổ, nhục nhã.

Ngày 17/11/2021, CQĐT- CATX Sơn Tây đã Quyết định trưng cầu Viện khoa học hình sự - Bộ Công an giám định kỹ thuật số điện tử: Khôi phục và trích xuất video, hình ảnh trong ứng dụng “Ảnh” và các ứng dụng mạng xã hội của chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart, số Imei 1: 352705111597249, số Imei 2: 352705111597256 thu giữ của Trương Văn N. Tại bản Kết luận giám định số: 8413/C09-P6 ngày 13/01/2022, của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an, kết luận: “Không trích xuất, phục hồi được dữ liệu từ điện thoại gửi giám định do không có mật khẩu màn hình”.

Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo Trương Văn N đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số: 27/CT-VKS ngày 30/3/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Trương Văn N về tội : “Làm nhục người khác” ; theo Điểm a, e Khoản 2 Điều 155 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên toà bị cáo Trương Văn N đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

6

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trương Văn N phạm tội: “ Làm nhục người khác”. Đề nghị HĐXX căn cứ Điểm a, e Khoản 2 Điều 155; Điểm i, Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điểm đ Khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015; Xử phạt bị cáo Trương Văn N từ 12 đến 15 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 25/01/2022.

Về vật chứng và tài sản liên quan đến vụ án: Tịch thu hoàn trả Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, t.p Hà Nội lưu theo hồ sơ vụ án hình sự sơ thẩm số 23/HSST, ngày 31/3/2022; 01 USB màu đen, trên thân có dán tem chữ FPT và dòng chữ bạc ghi 16GB . Tịch thu sung công quỹ Nhà Nước: 01 (Một) điện thoại nhãn hiệu Vsmart, màu đen số Imei 1: 352705111597249; Số Imei 2: 352705111597256.

Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban tH vụ Quốc hội: Bị cáo Trương Văn N phải chịu án phí theo qui định của pháp luật.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo và người tham gia tố tụng khác, cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

!

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!

Trên cở sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội, Kiêm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.

Như vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở để xác định:

[1]. Trong quá trình chung sống giữa bị cáo Trương Văn N và chị Bạch Thị Thu H hai vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn, cãi nhau và chị H có ý định ly hôn. Bị cáo Trương Văn N nghĩ đến việc sẽ quay video clip khỏa thân của chị H để khống chế ý định đòi ly hôn của chị H.

Thời điểm tháng 8/2020, bị cáo N đã mua 01 cốc chè thập cẩm rồi giã nhỏ 01 viên thuốc cho vào cốc chè. Khi chị H đi làm về thì N đưa cốc chè đó cho chị H ăn. Một lúc thì buồn ngủ và ngủ thiếp đi, N đã cởi quần dài, quần lót của chị H ra rồi dùng điện thoại di động của mình nhãn hiệu Vsmart màu đen- trắng, quay 02 video clip, trong đó có 01 video thời lượng 03 phút, 01 video thời lượng 02 phút có các hình ảnh N dùng tay sờ bên ngoài âm đạo, vú, đưa một ngón tay vào trong âm đạo của chị H. Sau đó N mặc quần lại cho chị H như bình tH.

Khoảng 03 ngày sau, N lại mua 02 cốc trà sữa rồi giã nhỏ 1,5 viên thuốc Rotundin cho vào 01 cốc. Khi chị H đi làm về thì N đưa cho chị H uống cốc nước

7

đã pha thuốc. Chị H ngủ say, N cởi quần chị H ra và tiếp tục sử dụng chiếc điện thoại di động quay được 03 video clip có các hình ảnh N dùng tay sờ bên ngoài âm đạo, vú, đưa một ngón tay vào trong âm đạo; dùng dương vật cọ sát bên ngoài âm đạo, vú, miệng; dùng miệng hôn âm đạo, vú chị H và mặc lại quần cho chị H.

Sáng ngày hôm sau chị H mệt không đi làm được, ở nhà ngủ thì N tiếp tục cởi quần chị H ra dùng điện thoại quay tiếp được 02 video clip có các hình ảnh như trên.

Đến tháng 11/2020, chị H làm đơn xin ly hôn N. Ngày 26/01/2021, TAND TX Sơn Tây đã ra Quyết định số 06/2021/QĐST-HN&GĐ công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự giữa chị H và N.

Đến tháng 02/2021, N về nhà mẹ đẻ tại thôn T, xã L sống, chị H ở tại phòng trọ. Trương Văn N tìm mọi cách níu kéo tình cảm và đề nghị chị H quay lại nhưng chị H không đồng ý.

Ngày 19/4/2021, Trương Văn N đã chia 07 video clip nêu trên thành 16 video clip với thời lượng ngắn hơn khác nhau rồi sử dụng tài khoản facebook tên “N còii” hoặc tài khoản “Tre trâu” nhắn tin qua ứng dụng messenger đến tài khoản facebook “Thu Hương” của chị H với nội dung: E sẽ được sáng nhất face; Tôi mất em. Thì em cũng đéo có được hạnh phúc đâu, kèm theo 16 video clip. Chị H xem xong, không biết N đã quay hình ảnh chị như vậy khi nào. N đe dọa chị nếu không quay lại sẽ gửi các video clip này cho các bạn bè để chị phải xấu hổ, nhục nhã nhưng chị H vẫn kiên quyết không đồng ý quay lại và chặn nick facebook của N.

Đến tháng 5/2021, chị H có quan hệ tình cảm với anh Bạch Công T, sinh năm 1992, ở Thôn 9 xã T, huyện V, Hà Nội thì Trương Văn N cũng lập và sử dụng tài khoản facebook “Phùng Tiến” tham gia vào nhóm “Hội đồng hương Ba Vì” do anh Phùng Quý L- sinh năm 1993, ở Thôn L, xã Đ, huyện Ba Vì, Hà Nội sử dụng tài khoản Facebook “Phùng Quý Rừng” lập vào đầu năm 2020, có 1.300 thành viên. Nhóm này không bắt buộc các thành viên đăng bài phải được duyệt mà tự các thành viên ai muốn đăng bài thì tự đăng lên nhóm, không có sự kiểm duyệt của quản trị viên.

Ngày 26/6/2021, N có đăng 03 bài viết với nội dung: “E lại đẹp và sáng nhất người Ba Vì rồi. Lại là người nổi tiếng nhất Facebook rồi. Link đẹp ae quan tâm inbok m gửi link”, “E lại là người nổi tiếng Ba Vì rồi. Ai muốn xem link e này k. Người Ba Vì ibos e gửi link” và “Có ai nhận ra e Ba Vì này không. E là người rạng rỡ nhất Ba Vì rồi. Tboos. Mình gửi link”.

Sau đó các thành viên trong nhóm bình luận, nhắn tin xin video clip thì N đã gửi 02 video clip, 01 ảnh mặt chị H qua ứng dụng messenger đến các tài khoản có đề mục từ 01 đến 20 nêu trên. Nên đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Làm nhục người khác”.Theo Điểm a, e Khoản 2 Điều 155 Bộ luật hình sự năm 2015.

Vì vậy,Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Trương Văn N về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[2]. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Nhân phẩm, danh dự và sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ, đó là quyền bất khả xâm phạm. Bất kỳ người nào có hành vi xâm phạm đến Nhân phẩm, danh dự và sức khỏe người

8

khác, trái pháp luật đều bị xử lý nghiêm minh; Bị cáo Trương Văn N có đủ năng lực nhận thức về hành vi đã xâm hại đến nhân phẩm, danh dự và sức khỏe của chị Bạch Thị Thu H; Vì vậy, cần phải có hình phạt nghiêm khắc, bắt bị cáo phải cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm răn đe, giáo dục với bị cáo và phòng ngừa chung.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng cần xem xét, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo để quyết định hình phạt phù hợp với quy định của pháp luật.

Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điểm đ Khoản 1 Điều 52 – BLHS về hành vi phạm tội vì động cơ đê hèn.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điểm s, Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo Điểm i Khoản 1 Điều 51 – BLHS là không có căn cứ, bị cáo phạm tội nhiều lần.

[3]. Đối với việc : Sau ly hôn, do muốn níu kéo chị H quay về bị cáo N có hành vi đến phòng trọ của chị H, bị cáo N đi vào trong khóa trái cửa lại, thuyết phục chị H nhưng chị H vẫn không đồng ý và hai người đã cãi nhau. Bực tức N đã đẩy chị H nằm xuống giường rồi dùng dây mang theo trói tay chị H lại, chị H giằng co với N khoảng 5 phút thì N trói được tay chị H. Chị H giãy dụa kêu to yêu cầu N cởi trói ra nhưng N không cởi mà vớ sợi dây sạc pin điện thoại trên giường tiếp tục trói chị H, sợ mọi người biết nên N lấy chiếc khăn mặt trong phòng nhét vào miệng chị H. Khoảng 5 phút sau thì chị H mệt, khó thở nên N đã cởi trói, bỏ khăn mặt ra, tiếp tục thuyết phục chị H nhưng chị H vẫn không nghe. Khi thấy chị H bình tH trở lại thì bị cáo N bỏ đi. Bị cáo N có hành vi trói tay, dùng khăn bịt miệng chị H nêu trên, xét thấy: Vì níu kéo chị H không được, xảy ra cãi nhau nên N đã thực hiện hành vi, mục đích của N là muốn níu kéo chị H quay lại, địa điểm xảy ra là phòng trọ của N và H đã ở chung với nhau trước đó, là khu đông dân cư sinh sống, thời gian N thực hiện hành vi khoảng 05 phút thì đã tự nguyện cởi trói cho H, chị H khai không bị ảnh hưởng đến tinh thần, sức khỏe, tự do đi lại của mình. Ngày 14/12/2021, chị đã có đơn từ chối giám định, xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho N. Do vậy hành vi của N không cấu thành tội: “ Bắt giữ người trái pháp luật” theo Điều 157 - BLHS năm 2015 là hoàn toàn có căn cứ; HĐXX không xét.

[4]. Đối với hành vi bị cáo N cho chị H uống thuốc an thần, sau đó có những hành động: Dùng tay sờ bên ngoài âm đạo, vú, đưa một ngón tay vào trong âm đạo, dùng dương vật cọ sát bên ngoài âm đạo, vú, miệng, dùng miệng hôn âm đạo, vú chị H, có dấu hiệu của tội Hiếp dâm khi lợi dụng tình trạng không thể tự vệ của nạn nhân. Tuy nhiên, chị H khai nhận, nếu biết chị vẫn đồng ý cho N giao cấu vì vẫn còn tình cảm, chị có đơn không yêu cầu xử lý hành vi này của N. Chị không yêu cầu đề nghị gì về các hành vi trên của bị cáo N là hoàn toàn tự nguyện và có căn cứ; HĐXX không xét. [5]. Về! vật! chứng! vụ! án: Cần áp dụng Điều 47 – BLHS 2015 ; Điều 106 BLTTHS năm 2015 .

9

Tịch thu 01 USB màu đen, trên thân có dán tem chữ FPT và dòng chữ bạc ghi 16GB là chứng cứ của vụ án; Theo biên bản giao nhận vật chứng do Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây lập ngày 01/4/2022. Nay chuyển trả Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, t.p Hà Nội lưu theo hồ sơ vụ án hình sự sơ thẩm số 23/HSST, ngày 31/3/2022.

Tịch thu sung công quỹ Nhà Nước: 01 (Một) điện thoại nhãn hiệu Vsmart, màu đen số Imei 1: 352705111597249; Số Imei 2: 352705111597256. Theo biên bản giao nhận vật chứng do Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây lập ngày 01/4/2022.

Về án phí: Bị cáo Trương Văn N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, theo quy định tại Điều 135, 136 - Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT!ĐỊNH!

1./Tuyên xử: Bị cáo Trương Văn N phạm tội: “Làm nhục người khác”.

2./ Căn cứ Điểm a, e Khoản 2 Điều 155; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điểm đ Khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Trương Văn N 12 (Mười hai) !tháng tù . Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 25/01/2022.

3./ Áp dụng khoản 1 Điều 329 – BLTTHS 2015 tiếp tục t¹m!giam bị cáo để đảm bảo thi hành án. Thời gian tạm giam là 45 ngày kể từ ngày tuyên án 28/4/2022.

4./! Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 – BLHS 2015; Điều 106 BLTTHS năm 2015 .

Tịch thu 01 USB màu đen, trên thân có dán tem chữ FPT và dòng chữ bạc ghi 16GB là chứng cứ của vụ án; Theo biên bản giao nhận vật chứng do Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây lập ngày 01/4/2022. Nay chuyển trả Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, t.p Hà Nội lưu theo hồ sơ vụ án hình sự sơ thẩm số 23/2022/HSST, ngày 31/3/2022.

Tịch thu sung công quỹ Nhà Nước: 01 (Một) điện thoại nhãn hiệu Vsmart, màu đen số Imei 1: 352705111597249; Số Imei 2: 352705111597256. Theo biên bản giao nhận vật chứng do Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây lập ngày 01/4/2022.

5./Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban tH vụ Quốc hội: Bị cáo Trương Văn N phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

6./ Quyền kháng cáo: Bị cáo Trương Văn N, người bị hại chị Bạch Thị Thu H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

“ Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thị hành án dân

10

sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự“. Nơi!nhận

T.M!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM!

- TAND Thµnh phè Hµ Néi.

Thẩm!phán-!Chủ!tọa!phiên!tòa!

- VKSND t.x Sơn Tây.

- Công an t.x Sơn Tây. -THADS, t.x Sơn Tây. -Nh÷ng ng­êi tham gia tè tông.

- L­u HS, VP !!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!Lã!Hùng!Cường! ! ! nhân dân thị xã Sơn Tây, t.p Hà Nội lưu theo hồ sơ vụ án hình sự sơ thẩm số 23/HSST, ngày 31/3/2022.

Tịch thu sung công quỹ Nhà Nước: 01 (Một) điện thoại nhãn hiệu Vsmart, màu đen số Imei 1: 352705111597249; Số Imei 2: 352705111597256. Theo biên bản giao nhận vật chứng do Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây lập ngày 01/4/2022. 5./Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban tH vụ Quốc hội: Bị cáo Trương Văn N phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

6./ Quyền kháng cáo: Bị cáo Trương Văn N, người bị hại chị Bạch Thị Thu H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

“ Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thị hành án dân

11

sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự“. C¸c Héi thÈm nh©n d©n

ThÈm ph¸n - Chñ täa phiªn tßa ! ! ! ! !

12

Cỡ chữ