vanban.org

Bản án 01/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình Tuyên án 03/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

I. Tuyên bố: Bị cáo Lê Viết L phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ".

II. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Viết L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo. Thời gian thử thách là 03 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 04/01/2023. Giao bị cáo Lê Viết L cho Uỷ ban nhân dân xã Vũ Lạc, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình giám sát và giáo dục trong thời gian thử thác… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "HS Lê Viết L - Bị truy tố tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
  • Tòa quyết gì? I. Tuyên bố: Bị cáo Lê Viết L phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ".
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 60 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KIẾN XƯƠNG
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2023/HSST
Ngày: 04 - 01 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƢƠNG, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thanh Xuân

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Văn Thành

2. Bà Đoàn Thị Duyên

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Khánh Ly - Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Kiến Xƣơng, tỉnh Thái Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thìn - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Kiến Xƣơng, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụL số: 72/2022/HSST ngày 21/11/2022 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 76/2022/HSST-QĐ ngày 22/12/2022 đối với:

1. Bị cáo Lê Viết L, sinh ngày 28/4/1981tại xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

Nơi cƣ trú: thôn V, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Viết H và bà Mai Thị M (đã chết); có vợ là Lại Thị H; có 03 con, con lớn sinh năm 2013, hai con nhỏ sinh năm 2016;

Tiền án, tiền sự: không;

Nhân thân: Tháng 02/2000 nhập ngũ tại đơn vị D162, E242 Quân khu 3, tỉnh Quảng Ninh đến tháng 02/2002 xuất ngũ về địa phƣơng.

Bị cáo bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cƣ trú, có mặt.

2. Bị hại:

- Ông Nguyễn Hữu L, sinh năm 1954 (đã tử vong ngày 22/6/2022 do tai nạn giao thông)

Nơi cƣ trú: thôn P, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình.

Người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Hữu L:

- Bà Đoàn Thị H, sinh năm 1956 (là vợ ông L)

- Anh Nguyễn Hữu T, sinh năm 1976 (là con ông L)

- Anh Nguyễn Hữu T1, sinh năm 1981 (là con ông L)

Nơi cƣ trú: thôn P, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình.

Người được người đại diện hợp pháp của bị hại ủy quyền:

- Anh Nguyễn Hữu T1, sinh năm 1981, có mặt

Nơi cƣ trú: thôn P, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình

* Người làm chứng:

- Ông Nguyễn Văn A, sinh năm 1963, “vắng mặt”.

Nơi cƣ trú: thôn Đ, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 22/6/2022, bị cáo L (có giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số 340075342462 do Sở giao thông vận tải tỉnh Thái Bình cấp ngày 06/4/2022) điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 17B1-056.91đi trên đƣờng bê tông nội đồng thuộc thôn Đồng Lầu xã Vũ An, đi xã Vũ Ninh huyện Kiến Xƣơng. Khi đi đến gần đoạn đƣờng nơi giao nhau giữa 02 đƣờng bê tông nội đồng thuộc thôn Đô Lƣơng xã Vũ An huyện Kiến Xƣơng. Thời điểm này bị cáo điều khiển xe đi trên phần đƣờng bên phải theo chiều đi và không giảm tốc độ khi qua các gờ giảm tốc để đi vào nơi giao nhau. Khi qua các gờ giảm tốc, bị cáo phát hiện thấy có xe mô tô biển kiểm soát 14.262.L3 do ông L điều khiển đi trên phần đƣờng bê tông nội đồng hƣớng thôn Đô Lƣơng đi thôn An Vinh, xã Vũ An và đã đi vào nơi giao nhau. Do bị cáo điều khiển xe không làm chủ tốc độ, không chấp hành hệ thống báo hiệu đƣờng bộ khi vào nơi giao nhau nên dẫn đến phần yếm chắn bùn phía trƣớc bên trái và giá để chân bên trái xe mô tô do bị cáo điều khiển va chạm vào càng xe phía trƣớc bên phải xe mô tô do ông L điều khiển làm ông Lƣỡng, xe mô tô 14-262.L3 ngã xuống đƣờng, còn bị cáo và xe mô tô 17B1-056.91 đổ trƣợt rê về hƣớng đi xã Vũ Ninh 10,7m thì dừng lại. Hậu quả ông L bị thƣơng tích đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Thái Bình, đến 13 giờ 40 phút cùng ngày ông L tử vong tại gia đình, còn bị cáo bị thƣơng tích nhẹ. Ngày 25/7/2022, bị cáo có đơn từ chối giám định thƣơng tích.

Khám nghiệm hiện trƣờng thể hiện:

- Nơi xảy ra tai nạn là nơi đƣờng bộ giao nhau giữa đƣờng hƣớng thôn Đô Lƣơng đi thôn An Vinh với đƣờng hƣớng thôn Đồng Lầu đi xã Vũ Ninh, cách 100m đi các hƣớng không có hệ thống biển báo hiệu đƣờng bộ, mặt đƣờng đƣợc đổ bê tông tƣơng đối bằng phẳng. Đoạn đƣờng hƣớng đi xã Vũ Ninh là đoạn đƣờng có đặt ba gờ giảm tốc bằng nhựa áp phan nằm ngang trên đƣờng, đƣờng rộng 3,6m. Phía bên phải đƣờng có lề đất rộng 1,2m, tiếp giáp là cánh đồng. Phía bên trái đƣờng có lề đất trồng cây rộng 0,8m, tiếp giáp lề đƣờng bên trái theo chiều đi của bị cáo là nghĩa trang xã Vũ An có tƣờng bao cao 1,4m, dài 150m. Tai ba gờ giảm tốc hƣớng đi thôn Đồng Lầu phần bên trái bị đứt đoạn, mỗi đoạn đo (0,4 x 0,2)m. Đƣờng bê tông hƣớng thôn Đô Lƣơng đi thôn An Vinh đi qua rãnh thoát nƣớc, phần đƣờng đi quan rãnh thoát nƣớc cao hơn so với mặt đƣờng về hai bên là 5 độ. Hƣớng đi thôn An Vinh đƣờng rộng 3,4m. Tiếp giáp hai bên đƣờng có lề đất trồng cây rộng 1,2m, tiếp giáp là cánh đồng.

Các vết cà xƣớc 1, 2, 3, 4 màu trắng đều trƣợt theo hƣớng thôn Đô Lƣơng đi thôn An Vinh. Vết trƣợt 5 màu đen, các vết cà xƣớc 6,7,8 màu trắng, vết trƣợt 9 đều trƣợt hƣớng thôn Đồng Lầu đi xã Vũ Ninh. Đám máu khô M; xe mô tô 14-262.L3 đổ phải, đầu xe hƣớng cánh đồng, cuối xe hƣớng vào lòng đƣờng; xe mô tô 17B1-056.91 đổ trái, đầu xe hƣớng thôn Đồng Lầu, cuối xe hƣớng đi xã Vũ An.

Kết quả khám nghiệm phƣơng tiện liên quan đến tai nạn giao thông thể hiện:

- Đối với xe mô tô BKS 17B1-056.91: Giá để chân trƣớc bên trái bị tuột mất ốp đệm cao su, khung kim loại bị đẩy cong từ trƣớc về sau, khung kim loại giá để chân bên trái bị đẩy cong gập từ trƣớc về sau, từ trái sang phải vào hộp chắn xích; phần yếm chắn bùn phía trƣớc bên trái và giá để chân bên trái có dấu vết trƣợt xƣớc sơn nhựa, bề mặt bám dính tạp chất màu trắng, dấu vết nứt nhựa. Vị trí mặt trƣớc chiếc ốp đệm cao su thu giữ tại hiện trƣờng, bề mặt có dấu vết trƣợt miết cao su hƣớng từ trƣớc về sau. Má lốp bên trái bánh trƣớc có dấu vết trƣợt miết cao su….

- Đối với xe mô tô BKS 14-262.L3: Má lốp bên phải bánh trƣớc có dấu vết trƣợt miết cao su, bề mặt bám dính tạp chất nàu nâu , mặt ngoài ốp kim loại ống giảm xóc trƣớc bên phải có dấu vết cong vỡ kim loại, trƣợt xƣớc sơn, xƣớc kim loại, mặt bên phải giỏ đeo hàng trƣớc, đầu ngoài tay nắm lái bên phải, đầu ngoài giá để chân trƣớc bên phải, đầu ngoài giá để chân sau bên phải, đuôi ống xả, cánh yếm bên phải có dấu vết trƣợt miết cao su, kim loại, nhựa, bề mặt có dính bột đá và đất cát, vỡ đèn xi nhan trƣớc bên phải….

Bản kết luận giám định số 142/KL-KTHS(PY) ngày 04/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: ông Nguyễn Hữu L bị đa chấn thƣơng vùng đầu và toàn thân do tai nạn giao thông làm vỡ xƣơng sọ vùng chẩm phải, chảy máu não. Nguyên nhân chết của nạn nhân Nguyễn Hữu L do chấn thƣơng sọ não.

Vật chứng của vụ án:

Xe mô tô biển kiểm soát 17B1-056.91 nhãn hiệu Angel, sơn màu đen xanh do bị cáo L điều khiển đã trả lại cho bị cáo L và xe mô tô biển kiểm soát 14-262.L3, nhãn hiệu Honda sơn màu xanh do ông Lƣỡng điều khiển đã đƣợc trả lại cho anh T1.

Trách nhiệm dân sự: Tại giai đoạn điều tra, bị cáo đã tự nguyện bồi thƣờng cho gia đình bị hại tổng số tiền 70.000.000 đồng, đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận đủ số tiền trên, không còn yêu cầu gì khác và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Tại bản Cáo trạng số 75/CT-VKSKX ngày 21/11/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xƣơng, tỉnh Thái Bình đã truy tố bị cáo Lê Viết L về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ" theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm nhƣ đã truy tố trong bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Lê Viết L phạm tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ”.

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 65 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Viết L từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo. Thời gian thử thách từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm kể từ ngày tuyên án.

- Về trách nhiệm dân sự: Tại giai đoạn điều tra, bị cáo đã bồi thƣờng cho gia đình bị hại tổng số tiền 70.000.000 đồng, đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận đủ số tiền trên, không còn yêu cầu gì khác nên không giải quyết.

- Về việc xửL vật chứng: Chấp nhận việc Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô 17B1-056.91 cho bị cáoL và xe mô tô 14-262.L3 cho anh T1.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo không tranh luận gì và đề nghị HĐXX cho bị cáo hƣởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Kiến Xƣơng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xƣơng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, ngƣời đại diện hợp pháp cho bị hại không có ngƣời nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với nội dung bản cáo trạng, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của ngƣời làm chứng, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trƣờng, sơ đồ hiện trƣờng, biên bản khám nghiệm tử thi, kết luận giám định pháp y, biên bản khám nghiệm phƣơng tiện liên quan đến tai nạn giao thông cũng nhƣ các tài liệu khác có trong hồ sơ.

Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để xác định: Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 22/6/2022, bị cáoL điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 17B1-056.91 đi trên đƣờng bê tông nội đồng thuộc thôn Đồng Lầu xã Vũ An, đi xã Vũ Ninh huyện Kiến Xƣơng. Khi đi đến nơi giao nhau giữa 02 đƣờng bê tông nội đồng thuộc thôn Đô Lƣơng xã Vũ An huyện Kiến Xƣơng, do bị cáo điều khiển xe môtô không làm chủ tốc độ, không chấp hành hệ thống báo hiệu đƣờng bộ khi vào nơi giao nhau nên dẫn đến phần yếm chắn bùn phía trƣớc bên trái và giá để chân bên trái xe mô tô do bị cáo điều khiển va chạm vào càng xe phía trƣớc bên phải xe mô tô 14-262.L3 do ông L điều khiển đi trên đƣờng bê tông nội đồng hƣớng thôn Đô Lƣơng đi thôn An Vinh xã Vũ An và đã đi vào nơi giao nhau làm ông L, xe mô tô 14-262.L3 ngã xuống đƣờng, còn bị cáo và xe mô tô 17B1-056.91 đổ trƣợt rê về hƣớng đi xã Vũ Ninh 10,7m thì dừng lại. Hậu quả ông L tử vong.

Hành vi của bị cáo Lê Viết L đã vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 11, khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đƣờng bộ; khoản 1, 2, 3 Điều 5 Thông tƣ số 31 ngày 29/8/2019 của Bộ giao thông vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đƣờng bộ. Hành vi của ông Nguyễn Hữu Lƣỡng vi phạm khoản 1 Điều 24 Luật giao thông đƣờng bộ nhƣng do ông Lƣỡng đã chết nên cơ quan điều tra không xem xét.

Điều 11. Chấp hành báo hiệu đường bộ.

1. Người tham gia giao thông phải chấp hành hiệu lệnh và chỉ dẫn của hệ thống báo hiệu đường bộ.

Điều 12. Tốc độ xe và khoảng cách giữa các xe.

Người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải tuân thủ quy định về tốc độ xe chạy trên đường và phải giữ một khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trước xe của mình; ở nơi có biển báo“Cự ly tối thiểu giữa hai xe” phải giữ khoảng cách không nhỏ hơn số ghi trên biển báo.

Điều 5. Thông tư 31/2019/TT- BGTVT ngày 29/8/2919 - Các trường hợp phải giảm tốc độ

Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong các trường hợp sau đây:

1. Có báo hiệu cảnh báo nguy hiểm hoặc có chướng ngại vật trên đường;

2. Chuyển hướng xe chạy hoặc tầm nhìn bị hạn chế;

3. Qua nơi đường bộ giao nhau cùng mức.

Hội đồng xét xử kết luận: Bị cáo Lê Viết L phạm tội "Vi phạm quy định về điều khiển phƣơng tiện giao thông đƣờng bộ" theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ:

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a, Làm chết người

….

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đƣờng bộ, khi tham gia giao thông bị cáo đã không chấp hành nghiêm chỉnh các quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ, đã gây ra tai nạn nghiêm trọng gây thiệt hại đến tính mạng của ông Nguyễn Hữu L, gây mất mát đau thƣơng rất lớn cho gia đình bị hại. Vì vậy cần phải áp dụng hình phạt xử phạt tƣơng ứng với tính chất, mức độ đối với hành vi phạm tội của bị cáo, có nhƣ vậy mới đủ tác dụng cải tạo giáo dục đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm nói chung. Tuy nhiên, ông L cũng vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 24 Luật giao thông đƣờng bộ. Vì vậy, khi quyết định hình phạt đối với bị cáo cũng cần xét đến việc bị hại cũng có một phần lỗi trong việc xảy ra tai nạn giao thông.

Bị cáoL không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, tự nguyện tích cực bồi thƣờng cho gia đình bị hại, có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự và đƣợc đại diện hợp pháp cho bị hại làm đơn đề nghị giảm hình phạt cho bị cáo-là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo đƣợc hƣởng quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Mặt khác bị cáo là ngƣời có nhân thân tốt chƣa có tiền án, tiền sự, có nơi cƣ trú cụ thể, rõ ràng, ngoài hành vi phạm tội lần này thì bị cáo không có vi phạm pháp luật nào khác. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc để bị cáo cải tạo ngoài xã hội không ảnh hƣởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm. Vì vậy, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, cần áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo tự cải tạo ngoài xã hội, tạo điều kiện để bị cáo cải tạo và sửa chữa sai lầm, sớm trở thành ngƣời công dân có ích cho xã hội là phù hợp với quy định của pháp luật, chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nƣớc ta hiện nay.

Không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo cùng gia đình đã bồi thƣờng cho đại diện bị hại tổng số tiền 70.000.000 đồng (gồm chi phí mai táng, tổn thất tinh thần và các chi phí khác), đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận đủ số tiền trên, không còn yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

Về xửL vật chứng:

- Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kiến Xƣơng đã trả lại xe mô tô biển kiểm soát 17B1-056.91 cho bị cáo L và xe mô tô biển kiểm soát 14-262.L3 cho anh T1 nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Bị cáo Lê Viết L phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự; Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quảnL và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

I. Tuyên bố: Bị cáo Lê Viết L phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ".

II. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Viết L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo. Thời gian thử thách là 03 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 04/01/2023.

Giao bị cáo Lê Viết L cho Uỷ ban nhân dân xã Vũ Lạc, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trƣờng hợp ngƣời đƣợc hƣởng án treo thay đổi nơi cƣ trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, ngƣời đƣợc hƣởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc ngƣời đƣợc hƣởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hƣởng án treo.

IV. Về án phí:

Bị cáo Lê Viết L phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

V. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nợi nhận:

TM. Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm

- VKSND huyện Kiến Xƣơng;

ThÈm ph¸n - Chñ to¹ phiªn toµ

- CA huyện Kiến Xƣơng;

- Bị cáo;

- Ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại;

- Lƣu hồ sơ.

Lê Thị Thanh Xuân TOÀ ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN KIẾN XƯƠNG

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

TỈNH THÁI BÌNH

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƢƠNG

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thanh Xuân

- Hội thẩm nhân dân:

1.Ông Nguyễn Đức Bƣờng – Phó Giám đốc Trung tâm văn hóa huyện Kiến Xƣơng.

2. Bà Nguyễn Thị Nhƣ Trang - Chuyên viên Phòng TNMT huyện Kiến Xƣơng.

Căn cứ vào Điều 199 và 222 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vào hồi 15 giờ 10 phút ngày 17 tháng 8 năm 2017, tại phòng nghị án HĐXX sơ thẩm đã tiến hành nghị án đối với vụ án: Bị cáo Trần Quốc Toàn bị VKS truy tố về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phƣơng tiện giao thông đƣờng bộ”.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã đƣợc thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, những ngƣời tham gia tố tụng khác tại phiên toà. HĐXX thảo luận về những vấn đề phải giải quyết trong vụ án nhƣ sau:

1. Về tội danh:

- Tuyên bố bị cáo Trần Quốc Toàn phạm tội "Vi phạm quy định về điều khiển phƣơng tiện giao thông đƣờng bộ"

- Kết quả biểu quyết: 3/3.

2. Về điều luật áp dụng:

- Áp dụng khoản 1 Điều 202; điểm b, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46; khoản 1, 2 Điều 60 Bộ luật hình sự 1999.

- Kết quả biểu quyết: 3/3.

3. Về mức hình phạt:

- Xử phạt bị cáo Trần Quốc Toàn 01( một ) năm tù, cho hƣởng án treo. Thời gian thử thách 02 (hai) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 17/8/2017.

- Kết quả biểu quyết: 3/3.

4. Về trách nhiệm dân sự:

- Áp dụng Điều 42 Bộ luật hình sự 1999; Điều 584, Điều 585, Điều 591, Điều 601 Bộ luật dân sự 2015:

Chấp nhận việc các bị cáo Trần Quốc Toàn đã thỏa thuận bồi thƣờng cho gia đình ngƣời bị hại Đoàn Văn Chi số tiền là 70.000.000 đồng (Đã bồi thƣờng xong).

- Kết quả biểu quyết: 3/3.

5. Về xửL vật chứng:

- Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự năm 1999 và Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự 2004:

Chấp nhận việc Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kiến Xƣơng trả lại cho bị cáo Trần Quốc Toàn chiếc xê ô tô tải biển kiểm soát 17K - 6448; trả lại cho chị Phạm Thị Hiên xe mô tô biển kiểm soát 17M1 - 7724; trả lại cho ông Nguyễn Văn Phi chiếc xe mô tô biển kiểm soát 17FA - 8151 và một xe lôi tự chế ba bánh.

Trả lại cho bị cáo Trần Quốc Toàn giấy phép lái xe ô tô hạng B2 số 340072342694 do Sở giao thông vận tải Thái Bình cấp ngày 07/10/2014 - Kết quả biểu quyết: 3/3.

6. Về án phí:

- Áp dụng Điều 98, 99 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quảnL và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội:

Bị cáo Trần Quốc Toàn phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Kết quả biểu quyết: 3/3.

7. Về quyền kháng cáo:

- Bị cáo; ngƣời đại diện hợp pháp của ngƣời bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

- Kết quả biểu quyết: 3/3

Biên bản lập xong. Hội đồng xét xử đã thống nhất thông qua và ký tên dƣới đây.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các Hội thẩm nhân dân

Cỡ chữ