vanban.org

Bản án 01/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum Tuyên án 04/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo AL phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo AL 04 (bốn) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Về trách nhiệm dân sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "vi phmaj giao thông - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 201…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo AL phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐĂK TÔ
TỈNH KON TUM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:01/2023/HSST
Ngày: 04-01-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK TÔ, TỈNH KON TUM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoa Như

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Huynh

2. Ông A Ku

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 04/01/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 15/HSST ngày 15/11/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2022/HSST-QĐ ngày 19/12/2022, đối với:

1. Bị cáo AL, giới tính: Nam; Tên gọi khác: không; Sinh năm 1994 tại Kon Tum. Nơi đăng ký NKTT: Thôn 3, xã Tân Cảnh, huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Xơ Đăng; Tôn giáo Công giáo; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 08/12; Con ông A Linh (đã chết) và bà Y Ner, sinh năm 1960; có vợ là Y Ai, sinh năm 1996. Bị cáo có 03 người con (lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất 2019). Anh, chị, em ruột: có 02 anh em ruột. Bị cáo là con thứ hai trong gia đình. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo được tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

2. Bị hại: Lương Văn Tú, sinh năm 1999 (đã chết);

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Lương Văn Tiên, sinh năm 1973 - bố đẻ của Lương Văn Tú.

HKTT: Thôn Pặt, xã Kỳ Tân, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa.

Nơi ở hiện tại: Thôn Đăk Tang, xã Đăk Xú, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum.

3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Chị Y Ai, sinh năm 1996.

Địa chỉ: Thôn 3, xã Tân Cảnh, huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum.

- Chị Vi Thị Hải, sinh năm 1972.

HKTT: Thôn Pặt, xã Kỳ Tân, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa.

Nơi ở hiện tại: Thôn Đăk Tang, xã Đăk Xú, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum.

4. Người làm chứng:

- Anh Thạch Thế Anh, sinh năm 1985; A Tuấn, sinh năm 1985.

Địa chỉ: Thôn 3, xã Tân Cảnh, huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum.

- Anh Trần Đình Vị, sinh năm 1979. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn 2, xã Tân Cảnh, huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum.

- Chị Lương Thị Tuyết, sinh năm 1984.

Địa chỉ: Thôn Kon Tu Dốp 2, xã Pô Kô, huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum.

Những người tham gia tố tụng đều có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 22 giờ ngày 28/4/2022, sau khi đã uống rượu bị cáo AL không có giấy phép lái xe, điều khiển xe mô tô BKS: 43K6-1628 chở theo vợ và 02 con về nhà tại thôn 3, xã Tân Cảnh, huyện Đăk Tô theo hướng Đăk Tô đi huyện Ngọc Hồi. Vì xe mô tô của bị cáo không có đèn chiếu sáng trước, đèn sau và đèn xi nhan bị hư nên AL dùng đèn pin (loại đèn pin đội đầu) làm thiết bị trợ sáng khi lái xe. Bị cáo điều khiển xe mô tô đi theo đường sân bay Phượng Hoàng (cũ) sau đó đi theo đường dân sinh tự mở (nối với sân bay Phượng Hoàng cũ với đường Hồ Chí Minh) rồi chuyển hướng rẽ trái đi vào đường Hồ Chí Minh để nhập làn bên phải theo hướng huyện Đăk Tô đi Ngọc Hồi đoạn Km 1502+650 đoạn qua thôn 2, xã Tân Cảnh, huyện Đăk Tô.

Khi bị cáo AL đang điều khiển xe chuyển hướng sang làn đường bên phải vì xe không có đèn chiếu sáng và không có đèn xi nhan cảnh báo chuyển hướng nên bị xe mô tô BKS: 77G1-586.06 do Lương Văn Tú cũng đã sử dụng rượu điều khiển đi phía sau cùng chiều khi đến khu vực giao nhau với đường không ưu tiên đã không giảm tốc độ nên đã đâm vào đuôi xe của AL gây tai nạn giao thông. Hậu quả Lương Văn Tú bị thương cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh KonTum đến 09 giờ ngày 29/4/2022 thì tử vong, Y Ai bị thương, 02 xe mô tô bị hư hỏng.

Các bản Kết luận giám định pháp y về thương tích kết luận: Nguyên nhân chết của Lương Văn Tú là do đa chấn thương và tỷ lệ tổn thương cơ thể của Y Ai sau tai nạn là 06%.

Kết quả nồng độ cồn đối với bị cáo AL là 0,126mg/L khí thở. Người bị hại Lương Văn Tú có nồng độ cồn trong máu, kết quả 105,3mg/dl.

Kết luận định giá tài sản xác định thiệt hại về tài sản: Đối với xe mô tô BKS: 43K6-1628 là 447.500 đồng; Xe mô tô BKS: 77G1-586.06 là 959.000 đồng.

Kết luận giám định tư pháp ngày 03/6/2022 của Sở giao thông vận tải tỉnh Kon Tum:

Đối với xe mô tô BKS: 77G1-586.06: Hệ thống phanh, hệ thống lái: Hoạt động bình thường, không phát hiện có dấu hiệu bị hư hỏng; Hệ thống đèn: Công tắc đèn chiếu sáng và đèn báo rẽ đang ở vị trí tắt. Vì không có chìa khóa xe, động cơ không hoạt động nên không kiểm tra trạng thái hoạt động của đèn.

Đối với xe mô tô BKS: 43K6-1628: Hệ thống phanh trước, hệ thống lái: Hoạt động bình thường, không phát hiện có dấu hiệu hư hỏng; Hệ thống phanh sau: Cần đạp phanh bị cong về sau; cơ cấu phanh tại bánh xe hoạt động bình thường, không phát hiện có dấu hiệu bị hư hỏng. Hệ thống đèn: Đèn bể vỡ, hệ thống điện hư hỏng nên không kiểm tra.

Hiện trường vụ án: Hướng khám nghiệm: hướng Đăk Tô đi Ngọc Hồi. Lấy mép đường bên phải hướng Đăk Tô -Ngọc Hồi làm mép đường chuẩn.

Hiện trường vụ tai nạn giao thông là đoạn đường thẳng được trải nhựa bằng phẳng có độ rộng của đường 6,35m, giữa đường có vạch kẽ đường (nét đứt màu vàng) chia lòng đường thành hai chiều xe chạy, một chiều hướng huyện Đăk Tô đi Ngọc Hồi và ngược lại. Bên phải hướng khám nghiệm giao nhau với đường không ưu tiên đi vào thôn 2, xã Tân Cảnh, phần tiếp giáp giữa đường Quốc lộ 14 và đường đi vào thôn 2 là 14,8m. Bên trái hướng khám nghiệm giao với đường dân sinh đi vào khu sân bay Phượng Hoàng cũ, độ rộng của đường dân sinh là 13,3m. Tại mép đường bên phải (hướng Đăk Tô – Ngọc Hồi) có biển cảnh báo nguy hiểm W.207b (giao nhau với đường không ưu tiên).

Sau tai nạn xe mô tô BKS: 43K6-1628 nằm ngã nghiêng về bên trái, tâm trục bánh trước và tâm trục bánh sau cách mép đường chuẩn lần lượt là 2,9m và 2,7m. Tại khu vực mương thoát nước phía bên phải hướng khám nghiệm xe mô tô BKS: 77G1-586.06 nằm ngã nghiêng về bên phải, tâm trục bánh trước và tâm trục bánh sau cách mép đường chuẩn lần lượt là 4,15m và 4,5m.

Tại hiện trường ghi nhận tổ hợp vết cà: vết cà 1gồm hai vết cà song song không liên tục theo hướng Đăk Tô đi Ngọc Hồi có kích thước (10,9 x0,01)m và vết cà 2 có hướng Đăk Tô đi Ngọc Hồi, kích thước (0,3x0,05)m. 01 vết máu loang kích thước (0,3x0,35)m, tâm vết máu cách mép đường chuẩn 1,95m.

Điểm đụng nằm trên phần đường lưu thông hướng huyện Đăk Tô đi huyện Ngọc Hồi, thời điểm xảy ra tai nạn 02 xe mô tô đang lưu thông hướng Đăk Tô-Ngọc Hồi, cách mép đường chuẩn 1,85m.

Tại Bản cáo trạng số 16/CT-VKS - ĐT ngày 15/11/2022 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum truy tố bị cáo AL về tội:“Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, Đại diện Viển kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38; Điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự 2015 đề nghị xử phạt bị cáo AL từ 02 năm đến 03 năm tù

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận tại phiên tòa, bị cáo AL bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 120.000.000 đồng

Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo gửi lời xin lỗi đến gia đình người bị hại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, đại diện bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử đã có cơ sở để khẳng định:

Vụ Tai nạn giao thông xảy ra khoảng 22 giờ 00 phút ngày 28/4/2022 tại Km 1502+650 đoạn qua thôn 2, xã Tân Cảnh, huyện Đăk Tô là do AL điều khiển xe mô tô không có đèn chiếu sáng, hệ thống điện hư hỏng, không có giấy phép lái xe, có sử dụng rượu bia và quá trình AL chuyển hướng không có tín hiệu báo hướng rẽ khiến cho người bị hại Lương Văn Tú điều khiển xe mô tô cùng chiều đã đâm vào đuôi xe do AL điều khiển. Hậu quả Lương Văn Tú bị chết là do đa chấn thương.

Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, vì vậy cáo trạng số 16/CT - VKS - ĐT ngày 15/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Tô truy tố bị cáo AL theo tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.

3 Về tình tiết tăng nặng, giảm nh trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:

- Tình tiết tặng nặng: Bị cáo AL không có tình tiết tăng nặng.

- Tình tiết giảm nh : Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Đã bồi thường một phần thiệt hại cho gia đình người bị hại số tiền 10.000.000 đồng nhưng không đáng kể;

Người bị hại Lương Văn Tú cũng có một phần lỗi khi đã sử dụng rượu bia, nồng độ cồn trong máu là 105,3mg/dl, khi đến khu vực giao nhau với đường không ưu tiên đã không giảm tốc độ, không chú ý quan sát. Gia đình bị hại xin giảm nh hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nh quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015.

- Về nhân thân : Bị cáo có nhân thân tốt

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và lỗi của bị cáo:

Hành vi của bị cáo rất nguy hiểm cho xã hội, gây hậu quả chết người, gây thương tích cho Y Ai, gây mất trật tự an toàn giao thông tại địa phương. Xét về mức độ lỗi gây ra tai nạn thấy rằng:

Hành vi của bị cáo AL điều khiển xe mô tô không có đèn chiếu sáng, hệ thống điện hư hỏng, không có giấy phép lái xe, có sử dụng rượu và quá trình AL chuyển hướng không có tín hiệu báo hướng rẽ là lỗi trực tiếp dẫn đến tai nạn giao thông; đã vi phạm khoản 1, khoản 2 Điều 15; Khoản 9 Điều 8; Khoản 8 Điều 8 Luật giao thông đường bộ đã được sửa đổi, bổ sung tại khoản 1 Điều 35 Luật phòng chống tác hại của rượu bia; Điểm g, khoản 3, Điều 5; Điểm a khoản 3 Điều 6; Điểm a khoản 5 Điều 21; Điểm e khoản 8 Điều 6 Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019, đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 123/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021và vi phạm quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Bên cạnh đó sau khi xảy ra tai nạn, bị cáo cũng không thăm viếng, động viên chia sẻ mất mát với gia đình bị hại, khi được Tòa án động viên giải thích thì bị cáo mới viếng thăm và bồi thường cho gia đình người bị hại số tiền 10.000.000 đồng, không đáng kể so với chi phí mai táng, tổn thất tinh thần gia đình bị hại.

Hiện nay, tình hình các vụ tai nạn giao thông xảy ra rất nhiều, đặc biệt là những vụ án do người tham gia giao thông sử dụng rượu bia khi lái xe, để lại nhiều hậu quả đáng tiếc. Toàn xã hội đang thực hiện triển khai việc nghiêm cấm điều khiển phương tiện giao thông có sử dụng rượu bia.

Bị cáo có 02 tình tiết định khung quy định tại điểm a,b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự, có 02 tình tiết giảm nh quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 và các tình tiết quy định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự 2015.

Vì vậy, cần thiết phải áp dụng cho bị cáo hình phạt tù có thời hạn trên cơ sở xem xét đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nh , mức độ ăn năn hối cải, mức độ bồi thường thiệt hại để cải tạo, giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự:

Ghi nhận sự thỏa thuận tại phiên tòa, bị cáo AL bồi thường thêm cho gia đình bị hại thuộc hàng thừa kế thứ nhất số tiền 120.000.000 đồng gồm tất cả các khoản thiệt hại do tính mạng bị xâm hại. Vợ bị cáo chị Y Ai không yêu cầu bồi thường dân sự.

Về vật chứng vụ án:

Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại 02 xe mô tô: BKS: 43K6-1628 và BKS: 77G1-586.06 cho bị cáo AL và ông Lương Văn Tiên (bố của Lương Văn Tú) là đúng quy định.

Về các vần đề khác:

Đối với thương tích của chị Y Ai và thiệt hại của 02 chiếc xe mô tô, các đương sự không có yêu cầu nênkhông xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo AL phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo AL 04 (bốn) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Về trách nhiệm dân sự:

Ghi nhận sự tự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa. Bị cáo AL phải bồi thường cho gia đình người bị hại là Anh Lương Văn Tiến và chị Vi Thị Hải số tiền 120.000.000 (Một trăm hai mươi triệu) đồng.

Căn cứ khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người đại diện hợp pháp của người bị hại có đơn yêu cầu thi hành mà bị cáo chậm trả số tiền nêu trên thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015, cho đến khi thi hành án xong số tiền trên.

3. Về án phí:

Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, Điều 6, khoản 1 Điều 23, khoản 1 Điều 24, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo AL phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 6.000.000 (Sáu triệu) đồng án phí dân sự sơ thẩm .

4. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo; người đại diện hợp pháp cho bị hại; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 04/01/2023).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ