vanban.org

Bản án 01/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Chương Mỹ, TP. Hà Nội Tuyên án 06/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Đăng K phạm tội “Vi phạmquy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp d ng Điểm a Khoản 1 Điều 260; Điều 38; Điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt Trần Đăng K 18 (mười T) tháng tù, nhưng cho hư ng án treo, thời gian thử thách 36 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Trần Đăng Kcho Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "vụ án phi phạm giao thông - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Đăng K phạm tội “Vi phạmquy định về tham gia giao thông đường bộ”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN M
THÀNH PHỐ H
Bản án số: 01/2023/HSST
Ngày 06 tháng 01 năm 2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M, THÀNH PHỐ H

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Hiểu

- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Liên

Bà Nguyễn Thị Thanh Hà

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện M.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M tham gia phiên tòa: Ông Cù Ngô Ngọc Thịnh, Kiểm sát viên.

Ngày 6 tháng 01 năm 2023, tại Tr s Tòa án nhân dân huyện M, thành phố H xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự th lý số 149/2022/TLST- HS ngày 14/11/2022 theo Quyết định đưa v án ra xét xử số 179/2022/QĐXXST-HS ngày 13/12/2022 đối với bị cáo:

TRẦN ĐĂNG K, sinh năm 1985; Đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ : Tiểu khu S, xã V, huyện V, tỉnh S. Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn K, sinh năm 1952 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1954. Vợ, con: Chưa. Danh chỉ bản số 501 lập ngày 26/7/2022 tại Công an huyện M. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, hiện đang bị áp d ng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

Nhân thân: Bản án số 190/2018/HSST ngày 27/8/2018 Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh S xử phạt 15 tháng tù nhưng cho hư ng án treo, thời gian thử thách 30 tháng về tội: Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản; chấp hành xong hình phạt ngày 27/02/2021; nộp án phí HSST theo biên lai thu tiền số 0008842 ngày 18/10/2018 (đã xóa án tích).

* Bị hại:

- Ông Nguyễn Trọng T, sinh năm 1980 (đã chết); Người đại diện theo pháp luật của anh T: Bà Nguyễn Thị C.

- Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1982 (vợ ông T);đều cư trú: thôn P, xã P, huyện M, thành phố H. Vắng mặt.

* Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1928 (mẹ đẻ ông T);

- Anh Nguyễn Trọng H, sinh năm 2003 (con đẻ ông T);

Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị C, cháu Nguyễn Trọng H là bà Nguyễn Thị C.

- Anh Nguyễn Trọng N, sinh năm 2007 (con đẻ ông T);

Người đại diện theo pháp luật cho anh Nguyễn Trọng N là bà Nguyễn Thị C.

Đều cư trú: thôn P, xã P, huyện M, thành phố H. Vắng mặt.

* Bị đơn dân sự: Công ty TNHH Đ; Địa chỉ: Tiểu khu T, xã H, huyện M, tỉnh S.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Đào Văn Cường Đ, sinh năm 1988; địa chỉ: thôn Đ, xã C, huyện M, tỉnh S; chức v : Giám đốc. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Đăng K, sinh năm 1985, có GPLX ô tô số 140100000xxx hạng FC do S Giao thông vận tải tỉnh S cấp ngày 15/9/2020; có giá trị đến ngày 15/9/2025 là lái xe chuyên ch hàng hóa theo Hợp đồng thuê tài xế lái xe ký kết ngày 01/01/2022 với Công ty TNHH Đ, có địa chỉ tại Tiểu khu T, xã H, huyện M, tỉnh S, do anh Đào Văn Cường Đ là Giám đốc. Sau khi ký kết Hợp đồng, anh Đ giao cho Kquản lý, sử d ng 01 xe ô tô đầu kéo BKS: 26C-032.xx, kéo theo rơ-moóc BKS: 98R-002.xx để ch hàng hóa cho Công ty TNHH Đ.

Ngày 23/5/2022, sau khi lấy hàng hóa là ngô hạt từ Cửa khẩu T thuộc địa phận huyện T, tỉnh Đ, Kđiều khiển xe ô tô đầu kéo, kéo theo rơ-moóc về khu vực xã Đ, huyện M, TP H. Đến khoảng 20 giờ 00 phút cùng ngày, K điều khiển chiếc xe ô tô trên đến đoạn đường gom, trước cổng Công ty EH H tại KCN P thuộc địa phận xã Đ, xã P, huyện M, TP H, để lấy hàng. Do lúc này trời tối, chỉ có ánh đèn chiếu sáng của đèn đường KCN, trời mưa rất to và phải chờ sáng ngày hôm sau mới lấy được hàng nên K đỗ xe sát lề đường bên phải theo hướng H đi H rồi tắt máy, ngồi trong cabin xe ô tô. Khi đỗ xe K không đặt vật cảnh báo phía sau xe, không bật đèn tín hiệu cảnh báo nguy hiểm, để cảnh báo cho các phương tiện khác biết có xe ô tô đang đỗ tại địa điểm trên.

Đến khoảng 21 giờ 00 phút cùng ngày, K nghe thấy tiếng động va chạm mạnh phía đuôi xe nên K m cửa xe xuống kiểm tra, thì phát hiện một chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu đỏ đen bạc BKS: 29X1- 875.xx bị đổ, bên cạnh là ông Nguyễn Trọng T nằm bất động và bà Nguyễn Thị C (vợ anh T) bị thương tích, chảy máu trán đang ngồi gần đó. Xác định có xảy ra tai nạn giao thông, nên K vào phòng bảo vệ của Công ty EH H để gọi người đưa nạn nhân đi cấp cứu. Lúc này, K mới bật đèn cảnh báo nguy hiểm của xe ô tô.

Hậu quả:

- Do thương tích nặng vùng đầu, ông T tử vong tại hiện trường;

- Bà C bị đa thương tích, gãy đùi phải, được đưa đi cấp cứu, điều trị tại Bệnh viện Đa Khoa H.

- Hai phương tiện bị hư hỏng do tại nạn giao thông.

* Về hiện trường vụ tai nạn:

- Nơi xảy ra v tai nạn giao thông là đoạn đường thẳng, mặt đường bằng phẳng, trải nhựa áp-phan rộng 8m40cm. Lề đường trái hướng X đi H là lề đường đất đá, cỏ dại rộng 1m, lề đường phải hướng X đi H là vỉa hè rộng 3m30.

- Điểm mốc được xác định là tr cổng bên phải hướng từ ngoài vào cổng Công ty TNHH Dinh dưỡng động vật EH H - Việt Nam. Mép chuẩn: Tất cả các số đo được đo vào mép đường phải hướng X đi H.

- Mô tả theo số thứ tự vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết:

(1) Xe ô tô đầu kéo BKS: 26C-032.xx kéo theo rơ-moóc BKS: 98R-002.xx đỗ tự nhiên trên mặt đường có lề đường, đầu xe quay hướng X, đuôi xe quay hướng H. Đo từ tâm tr c bánh trước bên trái đến mép chuẩn là 6m10cm; đo từ tâm tr c bánh sau cùng bên trái đến mép chuẩn là 6m50cm. Đo vuông góc từ tâm tr c bánh trước bên trái về hướng X đến tr cổng bên phải (hướng từ ngoài vào Công ty) là 5m40cm. Đo từ tâm tr c bánh trước bên phải đến mép đường trái hướng X - H là 80cm (mép cỏ dại); đo từ tâm tr c bánh hàng bánh thứ 2 bên phải đến mép cỏ dại là 70cm; đo từ tâm tr c bánh hàng bánh thứ 3 bên phải đến mép cỏ dại là 60cm; đo từ tâm tr c bánh sau cùng bên phải đến mép cỏ dại là 50cm.

(2) Xe mô tô BKS: 29X1-875.xx nằm đổ nghiêng bên trái xe quay hướng lề đường trái hướng X đi H, đuôi xe quay hướng tâm đường. Đo từ tâm tr c bánh sau xe đến mép chuẩn là 4m80cm; đo từ tâm tr c bánh trước xe đến mép chuẩn là 6m. Đo vuông góc từ tâm tr c bánh trước về hướng X đến tâm tr c bánh sau cùng bên trái xe ô tô (1) là 75cm. Đo vuông góc từ tâm tr c bánh trước về hướng X đến tâm tr c bánh sau về hướng X đến tâm tr c bánh sau cùng bên trái xe ô tô (1) là 65cm.

(3) Tử thi là nam giới mặc áo mưa màu xanh, quần dài, nằm trong tư thế xoay vặn, nghiêng người sang phải. Đo từ đỉnh đầu đến mép chuẩn là 5m65cm; đo từ gót chân bên trái đến mép chuẩn là 6m50cm. Đo vuông góc từ đỉnh đầu về hướng X đến tâm tr c bánh sau xe mô tô (2) là 1m15cm. Tử thi đầu quay tâm đường, chân quay lề đường.

(4) Vùng mảnh nhựa vỡ, giày dép diện (7x4,30)m. Tâm vùng cách mép chuẩn là 4m60cm. Đo từ tâm vùng vuông góc về hướng H đến tâm tr c bánh sau xe mô tô (2) là 2m.

(5) Vùng chất màu nâu đỏ, diện (1,40x0,90)m; tâm vùng cách mép chuẩn là 6m95cm. Đo vuông góc từ tâm vùng về hướng X đến tâm tr c bánh trước xe mô tô (2) là 70cm.

* Về khám nghiệm dấu vết phương tiện: Ngày 06/6/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M ra Quyết định trưng cầu giám định số 267/QĐ-CQĐT để trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự - Công an TP H xác định dấu vết va chạm; vị trí va chạm đầu tiên giữa xe mô tô BKS: 29X1-875.xx và xe ô tô đầu kéo BKS: 26C-032.xx, kéo theo rơ-moóc BKS: 98R-002.xx và tốc độ của các phương tiện khi xảy ra tai nạn.

Tại bản Kết luận giám định số 4717/KL-KTHS ngày 04/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an TP H, kết luận:

“1. Dấu vết va chạm phù hợp giữa 02 phương tiện:

- Dấu vết trượt xước mất cao su màu đen, bám dính chất màu đỏ (dạng sơn) trên diện (34x18)cm tại mặt sau chắn bùn phía sau cùng bên trái đuôi xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát: 26C-032.xx, kéo theo rơ-moóc biển kiểm soát: 98R-002.71, chiều hướng từ sau ra trước, từ trên xuống dưới, từ phải sang trái (Ảnh A3 + A4 - Bản ảnh giám định) phù hợp với dấu vết trượt xước mất sơn màu đỏ, xước nứt nhựa, bám dính chất màu đen (dạng cao su) trên diện (53x16) cm tại mặt ngoài bên phải xe môtô biển kiểm soát: 29X1-875.xx (chắn bùn bánh trước, cánh yếm), chiều hướng từ trước ra sau (Ảnh B3 + B4 - Bản ảnh giám định) - là dấu vết va chạm đầu tiên giữa 02 phương tiện.

- Dấu vết trượt xước sơn, bám dính chất màu đỏ (dạng sơn) trên diện (24x12)cm tại mặt ngoài phía sau bên trái khung kim loại bảo vệ đuôi xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát: 26C-032.xx, kéo theo rơ-moóc biển kiểm soát: 98R-002.71, chiều hướng từ sau ra trước, từ trên xuống dưới, từ phải sang trái (Ảnh A5 + A6 - Bản ảnh giám định) phù hợp với dấu vết trượt xước mất sơn màu đỏ, xước nứt vỡ nhựa trên diện (20x30)cm tại mặt ngoài bên phải xe mô tô biển kiểm soát: 29X1-875.xx (mặt nạ, phía trên cánh yếm), chiều hướng từ trước ra sau, từ dưới lên trên (Ảnh B5 + B6 - Bản ảnh giám định).

2. Không xác định được tốc độ của các phương tiện khi xảy ra tai nạn.

Kèm theo kết luận giám định: 01 (một) Bản ảnh giám định.”.

* Đối với ông Nguyễn Trọng T:

Về khám nghiệm tử thi: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã trưng cầu Trung tâm pháp y - S Y tế H giải phẫu tử thi nạn nhân Nguyễn Trọng T để xác định nguyên nhân tử vong của ông Nguyễn Trọng T. Đoàn khám nghiệm đã tiến hành khám nghiệm, pháp y tử thi sau đó bàn giao cho gia đình mai táng theo phong t c địa phương.

Tại Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 738/GĐTT-TTPY ngày 20/6/2022 của Trung tâm pháp y - Sở Y tế H, kết luận:

“ 1. Các dấu hiệu chính qua giám định:

- Vùng trán - thái dương - đỉnh phải bị va đập vào vật tày và vật tày có cạnh với lực tác động rất mạnh, sau đó vùng chẩm bị va đập vào vật tày với lực tác động mạnh gây:

+ Rách da vùng cung mày phải kích thước 6cm x 1cm.

+ Rách da vùng trán kích thước 1,5cm x 0,2cm; 0,7cm x 0,2cm và 1cm x 0,2cm.

+ Vỡ toác khớp trán - đỉnh trái, vỡ xương trán - đỉnh - thái dương phải.

+ Rách màng cứng, tụ máu dưới màng cứng.

+ Chảy máu lan tỏa màng mềm.

+ Tổn thương mạch lan tỏa.

+ Dập não, dập tiểu não.

+ Vỡ trần ổ mắt hai bên, vỡ xương sàng, vỡ phức tạp thân xương bướm lan vào xương đá 2 bên và xương chẩm.

+ Vỡ phức tạp xương bướm, cánh bướm 2 bên, vỡ hố yên.

+ Vỡ phức tạp xương chẩm.

- Mẫu máu của nạn nhân Nguyễn Trọng T giám định: Có Ethanol, nồng độ 49,06 mg/ 100ml máu.

- Mẫu máu của nạn nhân Nguyễn Trọng T giám định: Âm tính với Morphine, Codeine, Cocaine, Amphetamine, Methamphetamine, Ketamine, MDA, MDMA, MDEA.

2. Nguyên nhân chết:

Nạn nhân Nguyễn Trọng T, sinh năm 1980 tử vong do chấn thương sọ não nặng (Vỡ phức tạp toàn bộ nền sọ, vỡ xương vòm sọ, dập não, dập tiểu não, tổn thương mạch lan tỏa)./.”

* Đối với bà Nguyễn Thị C:

Căn cứ vào hồ sơ bệnh án của bà Nguyễn Thị C tại Bệnh viện đa khoa H khi nhập viện ngày 24/5/2022 xác định bà C bị đa chấn thương: Gãy xương đùi phải - mỏm trâm tr phải - Vết thương mặt - Chạm thương ngực kín.

Cơ quan điều tra đã trưng cầu Viện Khọc hình sự - Bộ Công an giám định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể (thương tích) và cơ chế hình thành thương tích của bà C. Tuy nhiên, bà C có đơn xin từ chối không đi giám định thương tích. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định dẫn giải bà C đi giám định thương tích nhưng bà C kiên quyết từ chối nên Cơ quan điều tra không có căn cứ các định thương tích đối với bà C để giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Cơ quan CSĐT đã rà soát camera an ninh, thiết bị ghi hình, nhân chứng, thu giữ dữ liệu điện tử và thu giữ được 01 đoạn video của camera an ninh thuộc Công ty EH H. Cơ quan điều tra đã tiến hành làm việc với bà Nguyễn Thị H (sinh năm 1976; trú tại thông S, xã T, huyện M, TP. H; là người đại diện cho Công ty EH H) xác định nội dung đoạn video thể hiện: Thời gian trên video chậm hơn khoảng 7 phút so với thời gian thực; chiếc xe ô tô đỗ trước cổng Công ty EH H không bật đèn hệ thống cảnh báo nguy hiểm, chỉ sau khi xảy ra v tai nạn giao thông trên thì hệ thống đèn cảnh báo của xe ô tô mới được bật sáng.

* Tại Bản kết luận định giá tài sản số 106/KL-HĐĐG ngày 16/6/2022 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện M, kết luận:

“Hội đồng định giá theo hồ sơ tài liệu Công an huyện M cung cấp và tham khảo giá thị trường tại thời điểm định giá.

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE ALPHA màu đỏ, BKS: 29X1-875.xx; xe cũ đã qua sử d ng, bị hư hỏng do tai nạn giao thông. Giá trị hư hỏng thay thế, sửa chữa thiệt hại như sau: ... Tổng cộng 2.380.xx0 đồng

* Về vật chứng vụ án:

- 01 (một) Giấy phép lái xe ô tô số 140100000xxx hạng FC do S Giao thông vận tải tỉnh S cấp ngày 15/9/2020;

- 01 (một) xe ô tô đầu kéo BKS: 26C-032.xx, kéo theo rơ-moóc BKS: 98R-002.xx, cũ đã qua sử d ng.

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu đỏ đen bạc; BKS: 29X1- 875.xx, cũ đã qua sử d ng.

Ngày 16/6/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã Quyết định xử lý vật chứng số 59/QĐ-CQĐT trả lại 02 (hai) phương tiện giao thông nêu trên cho chủ s hữu của phương tiện để quản lý, sử d ng.

* Đối với Trần Đăng K: Kết quả kiểm tra nồng độ cồn trong hơi th đo vào hồi 09 giờ 15 phút ngày 24/5/2022 là: 0,000mg/l (khí th ). Kết quả xét nghiệm tìm chất ma túy trong nước tiểu ngày 24/5/2022: Âm tính.

* Về trách nhiệm dân sự:

Sau khi xảy ra tai nạn, giữa các bên liên quan đến tai nạn giao thông đã tự nguyện hòa giải, đại diện gia đình Trần Đăng K đã tự nguyện bồi thường thỏa đáng cho gia đình ông Nguyễn Trọng T, bà Nguyễn Thị C số tiền 200.xx0.xx0 đồng. Đại diện gia đình ông T, bà C đã nhận đủ số tiền trên, đồng thời làm đơn đề nghị các cơ quan pháp luật xem xét giảm nhẹ hoặc miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho Trần Đăng K. Gia đình ông T, bà C cam đoan, cam kết không thắc mắc, khiếu nại gì về v tai nạn giao thông trên, không đề nghị Kphải bồi thường thêm gì khác về mặt dân sự.

Cáo trạng số 146/CT-VKS-CM ngày 11/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện M truy tố Trần Đăng Kvề tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Đăng Kkhai nhận hành vi của mình. Bị cáo thành khẩn nhận tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về tính chất, mức độ lỗi, việc tự nguyện bồi thường, khắc ph c hậu quả v tai nạn của bị cáo, xem xét hoàn cảnh gia đình bị cáo bố mẹ già, bị cáo là lao động chính, chăm sóc gia đình để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quan điểm như cáo trạng truy tố và kết luận bị cáo Trần Đăng Kđã phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Sau khi đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, xem xét tình tiết giảm nhẹ, đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp d ng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 18 tháng đến 21 tháng tù nhưng cho hư ng án treo thời gian thử thách từ 36 tháng đến 42 tháng.

Không áp d ng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận bồi thường xong, không có yêu cầu đề nghị bồi thường gì khác, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị trả lại bị cáo 01 giấy phép lái xe đã thu giữ có trong hồ sơ v án.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố t ng:

[1.1]. Về quyết định tố t ng của Cơ quan điều tra, của cơ quan truy tố, về hành vi tố t ng của Điều tra viên, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ t c quy định của Bộ luật tố t ng hình sự. Tại quá trình điều tra, bị cáo và những người tham gia tố t ng không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng. Do đó, các hành vi, quyết định tố t ng của cơ quan tiến hành tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về sự vắng mặt của người đại diện hợp pháp của người bị hại: Tại phiên tòa ông Nguyễn Trọng T (anh trai của ông Nguyễn Trọng T) xuất trình một Giấy ủy quyền tham gia tố t ng tại phiên tòa của bà Nguyễn Thị C không có ngày tháng năm; không được công chứng, chứng thực hợp pháp. Ông T trình bày bà C ủy quyền cho ông tham gia tố t ng tại phiên tòa nhưng không có yêu cầu gì khác, giữ nguyên các ý kiến đã có trong hồ sơ v án. Hội đồng xét xử xét thấy Giấy ủy quyền không có giá trị pháp lý tại phiên tòa; người đại diện hợp pháp của người bị hại trong hồ sơ đã có đủ lời khai cần thiết, không có ý kiến khác nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người này theo quy định tại khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố t ng hình sự.

. Về nội dung: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, lời khai của đại diện gia đình người bị hại, lời khai của người làm chứng, phù hợp với Sơ đồ và Biên bản khám nghiệm hiện trường; Biên bản khám nghiệm phương tiện, kết luận giám định cơ chế hình thành dấu vết trên phương tiện và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ v án. Có đủ cơ s để kết luận:

Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 23/5/2022, tại đoạn đường gom KCN P thuộc địa phận thôn Đ, xã P, huyện M, TP. H, Trần Đăng K sinh năm 1985, có GPLX ô tô số 140100000xxx hạng FC do S Giao thông vận tải tỉnh S cấp ngày 15/9/2020; có giá trị đến ngày 15/9/2025 có hành vi điều khiển xe xe ô tô đầu kéo BKS: 26C-032.xx, kéo theo rơ-moóc BKS: 98R-002.xx dừng đỗ không đảm bảo an toàn, không bật đèn cảnh báo, không đặt vật cảnh báo cho các phương tiện phía sau đi cùng chiều biết, dừng đỗ còn cách mép đường bên phải là 50cm dẫn đến mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu đỏ đen bạc; BKS: 29X1-875.xx do ông Nguyễn Trọng T điều khiển ch bà Nguyễn Thị C đi phía sau, cùng chiều đã đâm vào phía sau bên trái đuôi xe ô tô do K điều khiển.

Về khám nghiệm dấu vết phương tiện: Tại bản Kết luận giám định số 4717/KL-KTHS ngày 04/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an TP H, kết luận:

“1. Dấu vết va chạm phù hợp giữa 02 phương tiện...

2. Không xác định được tốc độ của các phương tiện khi xảy ra tai nạn“.

Về khám nghiệm tử thi: Tại Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 738/GĐTT-TTPY ngày 20/6/2022 của Trung tâm pháp y - S Y tế H, kết luận:

“ 1. Các dấu hiệu chính qua giám định...

2. Nguyên nhân chết:

Nạn nhân Nguyễn Trọng T, sinh năm 1980 tử vong do chấn thương sọ não nặng (Vỡ phức tạp toàn bộ nền sọ, vỡ xương vòm sọ, dập não, dập tiểu não, tổn thương mạch lan tỏa)./.”

Về thiệt hại tài sản: Tại Bản kết luận định giá tài sản số 106/KL-HĐĐG ngày 16/6/2022 của Hội đồng định giá trong tố t ng hình sự huyện M, kết luận: ... 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE ALPHA màu đỏ, BKS: 29X1-875.xx; xe cũ đã qua sử d ng, bị hư hỏng do tai nạn giao thông. Giá trị hư hỏng thay thế, sửa chữa thiệt hại như sau: ... Tổng cộng 2.380.xx0 đồng.

Hành vi của Trần Đăng K đã vi phạm điểm a, d, khoản 3, Điều 18 và khoản 1 Điều 19 Luật giao thông đường bộ năm 2008; gây hậu quả làm chết 01 người và gây thiệt hại về tài sản là 2.380.xx0 đồng, đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” thuộc trường hợp “Làm chết người”; tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện M truy tố bị cáo Trần Đăng K về tội “Vi phạmquy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ pháp luật.

Đối với ông Nguyễn Trọng T: Ông T có lỗi, điều khiển xe mô tô không có Giấy phép lái xe theo quy định; đã sử d ng rượu bia (Tại Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 738/GĐTT-TTPY ngày 20/6/2022 của Trung tâm pháp y - S Y tế H, kết luận: “ ...- Mẫu máu của nạn nhân Nguyễn Trọng T giám định: Có Ethanol, nồng độ 49,06 mg/ 100ml máu…”; không chú ý quan sát phát hiện xe ô tô dừng đỗ phía trước cùng chiều dẫn đến tai nạn giao thông. Tuy nhiên, sau tai nạn giao thông, ông T đã tử vong nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Đối với bà Nguyễn Thị C là người đăng ký chiếc xe mô tô BKS 29X1-875.xx, nhưng hai vợ chồng sử d ng C. Mặc dù, ông T chưa có Giấy phép lái xe theo quy định, nhưng bà C không giao phương tiện cho ông T, nên Cơ quan điều tra không có cơ s để xử lý bà C về hành vi phạm tội Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ theo quy định tại Điều 264 Bộ luật Hình sự.

Đối với ông Đào Văn Cường Đ: Trần Đăng K được ông Đ ký kết hợp đồng lao động để điều khiển xe ô tô ph c v việc kinh doanh, vận tải vật liệu xây dựng. Trần Đăng Kcó “Giấy phép lái xe” hạng FC, được phép kinh doanh vận tải, đủ điều kiện điều khiển các loại xe ô tô hạng C kéo rơ moóc, đầu kéo kéo sơmi rơmoóc. Ngoài ra, ông Đ có đầy đủ giấy tờ kinh doanh vận tải, đăng ký, s hữu phương tiện theo quy định đối với chiếc xe ô tô đầu kéo BKS: 26C-032.xx, kéo theo rơ-moóc BKS: 98R 002.xx và việc giao chiếc xe ô tô trên cho Kđược thực hiện theo đúng quy định pháp luật. Tuy nhiên, việc ông Đ mua chiếc rơ moóc BKS: 98R-002.xx từ năm 2016 đến nay nhưng không làm thủ t c sang tên, nên bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại điểm I, khoản 7, Điều 30 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ.

. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm an toàn công cộng, vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại về tính mạng và tài sản của người khác. Nguyên nhân chính gây ra v tai nạn trên có lỗi thuộc về bị cáo. Do vậy, cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo để giáo d c, cải tạo bị cáo, đáp ứng yêu cầu đấu tranh đảm bảo trật tự an toàn giao thông trong giai đoạn hiện nay, để giáo d c riêng và phòng ngừa C.

Về nhân thân bị cáo: Bản án số 190/2018/HSST ngày 27/8/2018 Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh S xử phạt Trần Đăng K 15 tháng tù nhưng cho hư ng án treo, thời gian thử thách 30 tháng về tội: Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản; bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 27/02/2021; nộp án phí HSST ngày 18/10/2018. Bản án trên đã được xóa án tích.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; sau khi tai nạn xảy ra bị cáo đã đến cơ quan Công an tự thú khai nhận toàn bộ sự việc; trong quá trình giải quyết hậu quả của v tai nạn, bị cáo đã tự nguyện bồi thường, tích cực khắc ph c hậu quả; gia đình người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; người bị hại cũng có lỗi trong v tai nạn là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s, r khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Hội đồng xét xử xét thấy trong v án Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ có lỗi hỗn hợp giữa bị hại và người phạm tội, người bị hại là ông T có lỗi, điều khiển xe mô tô không có Giấy phép lái xe theo quy định; đã sử d ng rượu bia; không chú ý quan sát phát hiện xe ô tô dừng đỗ phía trước cùng chiều. Về khách quan, trong điều kiện bất lợi về không gian, thời gian, trời tối, chỉ có ánh đèn chiếu sáng của đèn đường KCN, trời mưa rất to nên xác định lần phạm tội này bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, không ảnh hư ng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội, có 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, Điều 51, nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có đủ các điều kiện để áp d ng biện pháp chấp hành hình phạt tù nhưng cho hư ng án treo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 cũng đủ sức răn đe, giáo d c, cải tạo bị cáo, tạo cơ hội cho các bị cáo tu dưỡng, rèn luyện bản thân để tr thành công dân có ích cho xã hội.

. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 “Người phạm tội còn có thể cấm đảm nhiệm chức v , cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”. Tuy nhiên, bị cáo là lao động chính trong gia đình, Hội đồng xét xử quyết định không áp d ng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Về trách nhiệm dân sự: Trần Đăng K đã tự nguyện bồi thường thỏa đáng cho gia đình anh Nguyễn Trọng T. Bà Nguyễn Thị C đại diện gia đình ông T đã nhận đủ tiền bồi thường về mai táng phí, điều trị thương tích, tổn thất về tinh thần, cấp dưỡng, chăm sóc cho những người thừa kế của ông T, đồng thời làm đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho K cũng như cam kết không thắc mắc, khiếu nại gì về v tai nạn giao thông trên, không yêu cầu K bồi thường thêm gì khác về mặt dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về xử lý vật chứng: 01 (một) Giấy phép lái xe ô tô số 140100000xxx hạng FC do S Giao thông vận tải tỉnh S cấp ngày 15/9/2020 (có giá trị đến ngày 15/9/2025) mang tên Trần Đăng K hiện đang lưu giữ trong hồ sơ v án, xét không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo Knên trả lại cho bị cáo.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí và có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Tuyên bố bị cáo Trần Đăng K phạm tội “Vi phạmquy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp d ng Điểm a Khoản 1 Điều 260; Điều 38; Điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt Trần Đăng K 18 (mười T) tháng tù, nhưng cho hư ng án treo, thời gian thử thách 36 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Trần Đăng Kcho Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh S giám sát, giáo d c trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hư ng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách nếu người được hư ng án treo cố ý vi phạm nghĩa v theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần tr lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hư ng án treo.

2. Về hình phạt bổ sung: Không áp d ng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

3. Về xử lý vật chứng: Áp d ng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố t ng hình sự: Trả lại bị cáo Trần Đăng K 01 Giấy phép lái xe số 140100000xxx hạng FC do S Giao thông vận tải tỉnh S cấp ngày 15/9/2020 (có giá trị đến ngày 15/9/2025) (Hiện đang lưu tại Hồ sơ vụ án).

4. Về án phí: Áp d ng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố t ng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử d ng án phí và lệ phí Tòa án, Bị cáo Trần Đăng K phải chịu 200.xx0 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp d ng Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố t ng hình sự, bị cáo Trần Đăng K; Bị đơn dân sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người đại diện hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi, nghĩa v liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ