- Tranh chấp gì? án hình sự — "Chu Quang H "Vi pham quy định về tham gia giao thông đường bộ" - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sử…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Chu Quang H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 260 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BỐ TRẠCH TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2023/HSST Ngày 10 - 01 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BỐ TRẠCH - TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Xuân Diệu.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Võ Đình Vang và bà Nguyễn Thùy Hương.
- Thư ký phiên toà: bà Nguyễn Thị Nhạn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bố Trạch.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch tham gia phiên toà: ông Mai Anh Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 01 năm 2023, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 86/2022/HSST ngày 24/11/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 88/2022/QĐXXST-HS ngày 23/12/2022, đối với bị cáo: Chu Quang H, sinh ngày 26 tháng 6 năm 1984; tại huyện B, Thành phố Hà Nội; nơi cư trú: thôn Đ, xã P, huyện B, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn phổ thông: lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Chu Quang B và bà Phù Thị Đ; có vợ Nguyễn Thị Lan H và 02 người con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.
- Bị hại: ông Nguyễn Quang C, sinh năm 1966; nơi cư trú: Số 10/175, đường P, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (đã chết).
- Đại diện gia đình bị hại: anh Nguyễn Quang P, sinh năm 1995; nơi cư trú: Số 10/175, đường P, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Phan Văn T, sinh năm 1961; nơi cư trú: Thôn 5, xã T, huyện B, tỉnh Quảng Bình; có mặt.
+ Ông Chu Quang A, sinh năm 1981; thôn V, xã N, huyện T, Thành phố Hà Nội; vắng mặt.
- Người làm chứng: Anh Chu Bá T, sinh năm 1995; nơi cư trú: thôn Đ, xã P, huyện B, Thành phố Hà Nội; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 15 phút ngày 27/7/2022, Chu Quang H điều khiển xe ôtô đầu kéo BKS 29H - 631.59 kéo theo sơ mi rơ mooc BKS 29R-517.05, chở theo Chu Bá T di chuyển trên đường Quốc lộ 1A theo hướng Bắc - Nam. Khi đến Km 645+600 đường Quốc lộ 1A thuộc Tiểu khu 10, thị trấn Hoàn Lão, huyện Bố Trạch. Lúc này H điều khiển phương tiện di chuyển ở làn đường dành cho xe cơ giới bên ngoài để vượt lên nên đã va chạm xe Mô tô BKS 75H6-7171 do ông Phan Văn T điều khiển chở theo sau ông Nguyễn Quang C đang di chuyển cùng chiều, phía trước ở làn đường dành cho xe cơ giới bên ngoài, dẫn đến cánh cửa bên phải cabin và chắn bùn bánh trước bên phải xe ô tô 29H-631.59 va chạm với đầu ngoài tay cầm lái bên trái xe mô tô BKS 75H6-7171 theo hướng từ sau tới trước so với trục dọc của xe mô tô, làm cho xe mô tô cùng với ông Phan Văn T và ông Nguyễn Quang C ngã ra đường. Hậu quả ông Phan Văn T bị thương nhẹ, ông Nguyễn Quang C tử vong tại chổ; 02 phương tiện bị hư hỏng.
Kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện xác định nguyên nhân dẫn đến tai nạn là do Chu Quang H không chú ý quan sát trong quá trình điều khiển xe ôtô đầu kéo BKS 29H631.59, kéo theo sơ mi rơ mooc BKS 29R-517.05 đã vượt lên trong tình huống không đảm bảo khoảng cách an toàn đối với xe liền trước, va chạm xe mô tô BKS 75H6-7171 do ông Phan Văn T điều khiển chở ông Nguyễn Quang C đi cùng chiều, làm xe mô tô và ông Phan Văn T, ông Nguyễn Quang C ngã ra đường. Hậu quả: ông Nguyễn Quang C chết tại chỗ và ông Phan Văn T bị thương nhẹ.
Tại kết quả giám định pháp y số 132/TT ngày 25/8/2022 của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh Quảng Bình, kết luận: Nạn nhân chết do đa chấn thương, vết thương sọ não hở. Chấn thương hàm mặt, gãy cột sống cổ, chấn thương ngực kín.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ các vật chứng gồm: 01 xe ôtô đầu kéo BKS 29H631.59, kéo theo sơ mi rơ mooc BKS 29R-517.05 và Giấy chứng nhận đăng ký, Giấy chứng nhận kiểm định ATKT và BVMT phương tiện giao thông cơ giới đường bộ của xe ô tô đầu kéo và sơ mi rơ mooc; 01 Giấy phép lái xe hạng A1, E, FC của Chu Quang H; 01 xe mô tô BKS 75H6-7171 và Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy; 01 Giấy phép lái xe hạng A1 của ông Phan Văn T. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu các phương tiện, giấy tờ liên quan. Riêng Giấy chứng nhận đăng ký, Giấy chứng nhận kiểm định ATKT và BVMT phương tiện giao thông cơ giới đường bộ của xe ô tô đầu kéo và sơ mi rơ mooc; Giấy phép hạng A1 của Phan Văn T, Cơ quan điều tra chuyển đến Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Quảng Bình đề nghị xử phạt vi phạm hành chính.
Trong giai đoạn điều tra, giữa đại diện gia đình bị hại Nguyễn Quang C và bị cáo Chu Quang H đã thỏa thuận bồi thường toàn bộ thiệt hại gồm chi phí mai táng bị hại, bù đắp tổn thất tinh thần cho người thân thích của bị hại với tổng số tiền 60.000.000 đồng. Đại diện gia đình bị hại đã nhận đủ số tiền nói trên và làm đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại bản Cáo trạng số 82/CT - VKSBT ngày 23 tháng 11 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình đã truy tố bị cáo Chu Quang H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự: xử phạt Chu Quang H từ 12 - 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 - 30 tháng.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã chuyển đến Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Quảng Bình Giấy chứng nhận đăng ký, Giấy chứng nhận kiểm định ATKT và BVMT phương tiện giao thông cơ giới đường bộ của xe ô tô đầu kéo và sơ mi rơ mooc; Giấy phép hạng A1 của Phan Văn T để xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền nên không xem xét.
Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị hại và bị cáo đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường đầy đủ nên không xem xét.
Sau phần tranh tụng tại phiên tòa, bị cáo Chu Quang H nhất trí với tội danh, khung hình phạt mà Viện kiểm sát đã truy tố, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì thêm. Tại lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Như vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa vắng mặt đại diện gia đình bị hại anh Nguyễn Quang P; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Chu Quang A, tuy nhiên, xét thấy sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử vụ án, vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự xét xử vụ án vắng mặt đại diện gia đình bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nói trên.
Về xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Chu Quang H đều thống nhất khai nhận: Khoảng 14 giờ 15 phút ngày 27/7/2022, bị cáo trong khi điều khiển xe ôtô đầu kéo BKS 29H631.59, kéo theo sơ mi rơ mooc BKS 29R-517.05 di chuyển trên đường Quốc lộ 1A theo hướng Bắc - Nam, khi đến Km 645+600 thuộc địa phận Tiểu khu 10, thị trấn Hoàn Lão, huyện Bố Trạch, do điều khiển xe vượt lên trong tình huống không đảm bảo khoảng cách an toàn đối với xe liền trước đi cùng chiều nên đã va chạm, gây tai nạn với xe môtô mang BKS 75H6-7171 do ông Phan Văn T điều khiển chở ông Nguyễn Quang C. Hậu quả ông Phan Văn T bị thương nhẹ, ông Nguyễn Quang C tử vong ngay tại hiện trường. Lời khai nhận của bị cáo hoàn toàn phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, kết quả giám định pháp y, lời khai những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, có đủ căn cứ kết luận: bị cáo Chu Quang H đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Xét tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra trong vụ án này thấy rằng: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến các quy định của pháp luật trong lĩnh vực giao thông đường bộ, mà thông qua đó còn xâm hại đến tính mạng của bị hại, gây nên sự đau thương, mất mát vô cùng to lớn đối với gia đình bị hại. Là một lái xe, đã được học Luật Giao thông đường bộ, đã được sát hạch và cấp giấy phép lái xe theo quy định, bị cáo có đầy đủ khả năng để nhận thức được khi điều khiển phương tiện giao thông, đặc biệt là phương tiện có nguồn nguy hiểm cao độ như xe ôtô đầu kéo phía sau kéo theo sơ mi rơ mooc thì phải tuyệt đối tuân thủ các quy định Luật Giao thông đường bộ, hết sức tập trung để xử lý các tình huống trên đường. Tuy nhiên, do chủ quan, cẩu thả, điều khiển vượt lên trong tình huống không đảm bảo khoảng cách an toàn đối với xe liền trước nên đã gây tai nạn, gây hậu quả đau lòng như trên. Những điều đó chứng tỏ bị cáo là người có ý thức tuân thủ pháp luật kém. Vì vậy, cần áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự để quyết định cho bị cáo một mức hình phạt phù hợp với các tính chất hành vi phạm tội và hậu quả mà bị cáo đã gây ra, nhằm giáo dục ý thức chấp hành pháp luật cho bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy rằng: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải; sau khi gây tai nạn, bị cáo đã tự nguyện thỏa thuận và bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa từng vi phạm pháp luật.
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy cần ấn định cho bị cáo mức án hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện gia đình bị hại đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, vì vậy, không cần phải cách ly cải tạo, giáo dục bị cáo, mà cần áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo là cũng đủ nghiêm.
Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa gia đình bị hại và bị cáo về việc bồi thường toàn bộ thiệt hại gồm chi phí mai táng bị hại, bù đắp tổn thất tinh thần cho người thân bị hại với tổng số tiền 60.000.000 đồng. Đại diện gia đình bị hại đã nhận đủ số tiền nói trên. Cho đến tại phiên tòa không ai có yêu cầu gì thêm về trách nhiệm bồi thường của bị cáo, vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét gì thêm.
Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liến quan đến vụ án là ông Phan Văn T bị thương nhẹ và xe mô tô 75H6 -7171 bị hư hỏng nhẹ do bị cáo gây ra, quá trình điều tra ông Thiết từ chối giám định để xác định tổn hại sức khoẻ, không yêu cầu xác định thiệt hại về xe cũng như không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng trả lại: 01 xe ôtô đầu kéo BKS 29H631.59, kéo theo sơ mi rơ mooc BKS 29R-517.05 cho ông Chu Quang A; 01 Giấy phép lái xe hạng A1, E, FC cho Chu Quang H; 01 xe mô tô BKS 75H6-7171 cho ông Phan Văn T. Việc xử lý vật chứng của Cơ quan Cảnh sát điều tra là đúng quy định pháp luật, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến gì thêm, vì vậy không xem xét thêm. Đối với vật chứng Giấy chứng nhận đăng ký, Giấy chứng nhận kiểm định ATKT và BVMT phương tiện giao thông cơ giới đường bộ của xe ô tô đầu kéo BKS 29H-631.59 và sơ mi rơ mooc BKS 29R-517.05; Giấy phép hạng A1 của ông Phan Văn T đã chuyển đến Phòng Cảnh sát Giao thông Công an tỉnh Quảng Bình để xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền nên không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật để sung vào công quỹ Nhà nước.
Bị cáo, đại diện gia đình bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Chu Quang H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Về hình phạt: Phạt bị cáo Chu Quang H 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Chu Quang H cho Ủy ban nhân dân xã Phú Sơn, huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội phối hợp cùng gia đình giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách án treo. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về án phí: Buộc bị cáo Chu Quang H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung vào công quỹ Nhà nước.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 10 tháng 01 năm 2023. Đại diện gia đình bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết theo quy định.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Bình; - VKSND tỉnh Quảng Bình; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Bình; - Phòng PV 06 Công an tỉnh Quảng Bình; - VKSND huyện Bố Trạch; - Công an huyện Bố Trạch; - Chi cục THADS huyện Bố Trạch; - Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ. | (Đã ký) Nguyễn Xuân Diệu |