- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Mạnh Tú - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Mạnh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự xử phạt
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI TỈNH YÊN BÁI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2023/HS-ST Ngày 12-01-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Thế Hòa.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thanh Vân; bà Đặng Hoa Xuân.
- Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Mai Huế - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái tham gia phiên toà: Ông Hoàng Văn Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 92/2022/HS-ST ngày 19-12-2022. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 101/2022/QĐXXST-HS ngày 30-12-2022, đối với bị cáo :
1. Lê Mạnh T - Tên gọi khác: Không; sinh ngày 08-10-1990 tại tỉnh Yên Bái; nơi cư trú: Thôn L, xã M, huyện T, tỉnh Yên Bái; trình độ văn hoá: 11/12; nghề nghiệp: Không; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Kim H, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1968; vợ Nguyễn Thị H (đã ly hôn); tiền án, tiền sự: Không, nhân thân: Ngày 28-11-2011 bị Tòa án nhân dân huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái xử phạt 01 năm tù cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc” tại bản án số 14/HSST (đã được xóa án tích).
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 06-10-2022, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Yên Bái - Có mặt tại phiên tòa.
2. Người chứng kiến: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1961.
Nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái - Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Mạnh T là đối tượng nghiện chất ma túy, khoảng 08 giờ ngày 06-10-2022, T đi đến khu vực tổ dân phố H, phường H, thành phố Y, tỉnh Yên Bái mua của một người đàn ông không quen biết được 01 gói ma túy với giá 500.000 đồng, mục đích để sử dụng. Khi mua được ma túy Tú dấu gói ma túy vào trong vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng và đi đến khu vực Trường bắn thuộc tổ dân phố C, phường N, thành phố Y thì bị bắt quả tang và thu giữ: 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, bên trong có gói giấy màu xanh (loại vỏ kẹo cao su) có in chữ và số bên trong chứa chất bột nén màu trắng (nghi là ma túy) và 01 bật lửa ga màu đỏ.
Tại bản Kết luận giám định số: 537/KL-KTHS ngày 12-10-2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái kết luận: Chất bột nén màu trắng thu giữ của Lê Mạnh T có khối lượng là 0,13 gam là ma túy, loại Heroine.
Tại bản cáo trạng số: 01/CT-VKSTP ngày 19-12-2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái truy tố bị cáo Lê Mạnh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Mạnh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Mạnh T từ 01 năm 6 tháng đến 02 năm tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo Lê Mạnh T khai báo thành khẩn, không tranh luận gì và xin được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Yên Bái, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều là hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo, Lê Mạnh T khai nhận hành vi tàng trữ 0,13 gam ma túy loại Heroine với mục đích để sử dụng cho bản thân. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quy định quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương. Hành vi của bị cáo đang bị toàn xã hội bài trừ, lên án và cũng là nguyên nhân làm gia tăng tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Do đó, cần phải đưa bị cáo ra xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
Bị cáo là người có sức khỏe, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Bị cáo hiểu rõ tác hại của ma túy, nhưng do sống buông thả nên đi vào con đường nghiện chất ma túy, năm 2011 bị cáo đã bị xét xử về tội “Đánh bạc”. Do đó, cần phải có mức hình phạt thỏa đáng tương xứng với hành vi phạm tội, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, để giáo dục, cải tạo bị cáo và đảm bảo phòng chống tội phạm.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định và không có tài sản riêng. Nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Bị cáo Lê Mạnh T khai nhận nguồn gốc ma túy là mua của một người đàn ông nhưng T không biết đầy đủ tên, tuổi và địa chỉ của người đó. Do vậy không có cơ sở để điều tra, xác minh và xử lý trong vụ án.
Về vật chứng:
Đối với 0,13 gam ma túy loại Heroine thu giữ khi bắt quả tang Lê Mạnh T, Cơ quan giám định đã trích 0,07 gam làm mẫu giám định còn lại 0,06 gam được niêm phong bằng một phong bì do Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Yên Bái phát hành, cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 vỏ phong bì đã mở niêm phong, giấy gói; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng và 01 bật lửa ga màu đỏ cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Mạnh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Mạnh T 01 năm 6 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 06-10-2022.
3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy: 0,06 gam ma túy loại Heroine được niêm phong bằng một phong bì do Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Yên Bái phát hành, mặt trước phong bì có ghi: “Vật chứng do Lê Mạnh T tự giác giao nộp khi bắt quả tang ngày 06/10/2022 (sau khi đã trích mẫu giám định), mặt sau phong bì các mép đều được dán kín có đầy đủ họ tên, chữ ký của những thành phần tham gia niêm phong và bốn hình dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Yên Bái; 01 vỏ phong bì đã mở niêm phong; giấy gói; 01 bật lửa ga màu đỏ và 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng.
4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo Lê Mạnh T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 bị cáo Lê Mạnh T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Yên Bái; - VKSND tỉnh Yên Bái. - VKSND TP Yên Bái; - Công an TP Yên Bái; - Hồ sơ nghiệp vụ CATP; - Chi cục THADS TP Yên Bái; - Trại tạm giam; - Sở tư pháp tỉnh Yên Bái; - Bị cáo, người liên quan; - Lưu hồ sơ vụ án, TA, THA. trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đã ký Nguyễn Thế Hòa 5. Quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Văn Nhật được quyền kháng cáo bản án Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân |