vanban.org

Bản án 01/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Qui Nhơn, tỉnh Bình Định Tuyên án 06/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Lê Nguyên B, Hoàng Gia Đ; Châu Hoàng N; Bùi Thị N đều phạm tội: “Đánh bạc”.

Về hình phạt: 1 Xử phạt bị cáo Lê Nguyên B 10 (mười) tháng tù về tội: “Đánh bạc”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 20 (hai mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 06/01/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Nguyên B, Hoàng Gia Đ, Châu Hoàng N, Bùi Thị N - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Lê Nguyên B, Hoàng Gia Đ; Châu Hoàng N; Bùi Thị N đều phạm tội: “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ QUY NHƠN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2023/HS-ST
Ngày: 06 - 01 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ung Quang Định

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Tấn Bình

2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Thúy

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hạnh là Thư ký Toà án nhân dân Thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Quy Nhơn tham gia phiên tòa: Ông Văn Lê Hoài Khiêm - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 01 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Tp. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 255/2022/TLST

- HS ngày 28 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 252/2022/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 12 năm 2022 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Lê Nguyên B, sinh năm 1975; tại tỉnh B; Nơi cư trú: Tổ 7, Khu phố 7, P. N, Tp. Q, tỉnh B; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn P, sinh năm 1935 và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1937; Vợ: Võ Thị Thu N, sinh năm 1983; Con: 03 người, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khởi nơi cư trú” từ ngày 08/9/2022 cho đến nay; (có mặt)

2. Họ và tên: Hoàng Gia Đ, sinh năm 1990; tại tỉnh B; Nơi cư trú: 77 Nguyễn K, P. Đ, Tp. Q, tỉnh B; Nghề nghiệp: Lao động tự do: Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Ngọc T (chết) và bà Đoàn Thị Trúc P, sinh năm 1954; Vợ: Hồ Minh T, sinh năm 1995; Con: 01 người, sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 20/9/2010 bị Tòa án nhân dân tỉnh B xử phạt 03 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” và tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, được đặc xá tha tù ngày 31/8/2011. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khởi nơi cư trú” từ ngày 08/9/2022 cho đến nay; (có mặt).

3. Họ và tên: Châu Hoàng N, sinh năm 1985; tại tỉnh B; Nơi cư trú: Tổ 3, Khu phố 6, P. N, Tp. Q, tỉnh B; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Châu Hữu C, sinh năm 1956 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1965; Vợ, con: chưa; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khởi nơi cư trú” từ ngày 08/9/2022 cho đến nay; (có mặt)

4. Họ và tên: Bùi Thị N, sinh năm 1958; tại tỉnh B; Nơi cư trú: 28 Trần Cao V, Khu phố 2, P. L, Tp. Q, tỉnh B; Nghề nghiệp: Nội trợ: Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi B (liệt sỹ) và bà Trương Thị A, sinh năm 1935; Chồng: ông Đặng Thành T, sinh năm 1957; Con: 02 người, lớn sinh năm 1983, nhỏ sinh năm 1985; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khởi nơi cư trú” từ ngày 08/9/2022 cho đến nay; (có mặt)

- Người làm chứng:

+ Chị Lê Thị Bích H, sinh năm 1976. Địa chỉ: Tổ 3, Khu phố 6, P. N, Tp. Q, tỉnh B. Vắng mặt.

+ Anh Châu Phước N, sinh năm 1989. Địa chỉ: Tổ 2, Khu phố 6, P. N, Tp. Q, tỉnh B. Vắng mặt

+ Anh Hoàng Phi H, sinh năm 1988. Địa chỉ: Tổ 3, Khu phố 6, P. N, Tp. Q, tỉnh B. Vắng mặt

+ Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1951. Địa chỉ: thôn Đ, xã P, huyện T, tỉnh B. Vắng mặt

+ Anh Nguyễn Minh C, sinh năm 1983. Địa chỉ: thôn Đ, xã P, huyện T, tỉnh B. Vắng mặt.

+ Anh Lê Tấn Đ, sinh năm 1988. Địa chỉ: Tổ 2, Khu phố 7, P. N, Tp. Q, tỉnh B. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 28/6/2022, Châu Hoàng N, Hoàng Gia Đ, Bùi Thị N đến quán cà phê “Sân V”, địa chỉ: Tổ 7, khu vực 7, phường N, TP. Q của Lê Nguyên B làm chủ để uống cà phê. Tại đây, N, B, N, Đ rủ nhau đánh bạc ăn thua bằng tiền dưới hình thức binh xập xám. B vào trong quán lấy ra 01 tấm vải màu xanh để trải trên bàn, 01 bộ bài tây 52 lá, 01 tô sứ màu trắng và 03 hột xí ngầu để cả nhóm đánh bạc. Theo quy ước, mỗi người chơi bỏ ra số tiền 1.500.000 đồng (gọi là “tiền chớn”) tổng 04 người chơi bỏ ra số tiền là 6.000.000 đồng, quy định thắng – thua mỗi chi là 20.000 đồng, ngoài ra còn “đá xì” (tức bài nào không có lá bài xì thì thua 40.000 đồng nhưng không bắt buộc chỉ ai thích thì đá với nhau). Đến khoảng 15 giờ cùng ngày khi đang đánh bạc thì lực lượng Phòng Cảnh sát hình sự Công an tỉnh B phối hợp cùng Công an phường N phát hiện quả tang và thu giữ tại chiếu bạc số tiền là 9.400.000 đồng.

Về cách thức đánh bạc dưới hình thức binh xập xám được thực hiện như sau: Người chơi sử dụng bộ bài Tây 52 lá, chia đều cho mỗi người 13 lá bài (mỗi người chia một ván). Chia bài xong, người chia bài sẽ thảy 03 hột xí ngầu tính điểm để chọn trụ bài đầu tiên, rồi mới đến 03 người còn lại chọn các trụ bài tiếp theo. Sau đó, người chơi sẽ sắp xếp bài (gọi là binh bài) theo quy luật thành 03 chi (Chi trên cùng 03 là bài, hai chi dưới mỗi chi 05 lá bài). Các chi có tên gọi và sắp xếp khác nhau theo thứ tự chi mạnh nhất phải ở dưới, chi yếu đưa dần lên trên. Cụ thể:

- Thùng phá sảnh: là chi mạnh nhất gồm 05 lá bài liên tiếp nhau và cùng nước. Ví dụ: 5, 6, 7, 8, 9 cùng nước bài cơ.

- Tứ quí: là 04 lá bài giống nhau cộng với một lá bài bất kỳ. Ví dụ: 04 lá bài 10 với 01 lá bài J.

- Cù: là 03 lá bài giống nhau cộng với 01 đôi bài bất kỳ. Ví dụ: 03 lá bài 10 với 01 đôi bài J.

- Thùng: là 05 lá bài không liên tiếp nhau nhưng có cùng một nước. Ví dụ: 5, 7, 9, 10, J có cùng nước bài cơ.

- Sảnh: là 05 lá bài liên tiếp nhau nhưng không cùng nước. Ví dụ: 2 rô, 3 cơ, 4 chuồng, 5 bích, 6 cơ.

- Xám: là 03 lá bài giống nhau cộng với hai lá bài bất kỳ không thành đôi. Ví dụ: 03 lá bài 10 với 01 lá bài J, 01 lá bài Q.

- Hai đôi: là 02 cặp lá bài tạo thành đôi với 01 lá bài bất kỳ. Ví dụ: 02 lá bài 10, 02 lá bài J với 01 lá bài Q.

- Một đôi: là 01 cặp lá bài tạo thành đôi với 03 lá bài bất kỳ.

- Mậu thầu: là những lá bài lẻ không sắp xếp được theo các quy luật như trên.

Sau khi sắp xếp xong thì cả 04 người chơi cùng ngửa bài để so sánh các chi, tính thắng thua và chung tiền; tiền thắng - thua những người đánh bạc đều bỏ vào hoặc lấy ra từ “tiền chớn” chứ không cất giấu riêng số tiền thắng được. Cứ như thế, người chơi sẽ đánh nhiều ván bài, đến khi nào một trong bốn người chơi hết “tiền chớn” trước thì nghỉ.

Ngoài ra, lực lượng Công an còn tạm giữ trong túi xách của Bùi Thị N số tiền 19.700.000 đồng; trong ví của Châu Hoàng N số tiền 2.326.000 đồng; trong người của Lê Nguyên B số tiền 718.000 đồng.

- Vật chứng vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Tp. Q đã tạm giữ số tiền 9.400.000 đồng trên bàn đánh bạc; số tiền 22.744.000 đồng tạm giữ trong người các đối tượng đánh bạc; 01 bộ bài Tây 52 lá đã qua sử dụng, 5 bộ bài Tây 52 lá chưa khui; 03 hột xí ngầu, 01 tô sứ màu trắng, 01 tấm vải màu xanh; 03 xe mô tô (77L1 – 826.20, 54V7 – 6413, 77G1 – 383.74).

Đã trả lại xe mô tô BKS 77L1 – 826.20 cho bà Lê Thị Bích H; trả lại xe mô tô BKS 54V7 – 6413 và số tiền 19.700.000 đồng cho Bùi Thị N; trả lại số tiền 2.326.000 đồng cho Châu Hoàng N; trả lại số tiền 718.000 đồng cho Lê Nguyên B. Đồng thời, chuyển xe môtô 77G1 – 383.74 đến Công an huyện T, tỉnh B để kiểm tra, xác minh trong vụ việc khác.

Bản Cáo trạng số: 180/CT - VKS ngày 23 tháng 11 năm 2022 của Viện Kiểm sát nhân dân Tp. Quy Nhơn truy tố các bị cáo Lê Nguyên B, Hoàng Gia Đ; Châu Hoàng N; Bùi Thị N về tội: “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Các bị cáo Lê Nguyên B, Hoàng Gia Đ; Châu Hoàng N; Bùi Thị N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố nên Viện kiểm sát nhân dân Tp. Quy Nhơn giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo về tội “Đánh bạc”. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Về trách nhiệm hình sự:

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 của Bộ Luật hình sự; xử phạt các bị cáo Lê Nguyên Bh, Châu Hoàng N từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ Luật hình sự; xử phạt bị cáo Hoàng Gia Đ từ 09 tháng đến 12 tháng tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s, x khoản 1 Điều 51, Điều 36 của Bộ Luật hình sự; xử phạt bị cáo Bùi Thị N từ 18 tháng đến 24 tháng cải tạo không giam giữ.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

+ Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 6.000.000 đồng, đây là tiền các bị cáo đánh bạc

+ Trả lại cho bị cáo Hoàng Gia Đ số tiền 3.4000.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

+ Tịch thu tiêu hủy: 03 hột xí ngầu; 01 tô sứ màu trắng; 01 bộ bài tây loại 52 lá, 01 tấm vải màu xanh; 05 bộ bài tây loại 52 lá chưa khui, đây là vật chứng của vụ án.

Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không bào chữa gì.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Tất cả các bị cáo đều xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Tp. Quy Nhơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Tp. Quy Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh và điều luật áp dụng:

Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử đủ cơ sở xác định: Khoảng 15 giờ ngày 28/6/2022, tại quán cà phê “Sân V” thuộc Tổ 7, khu phố 7, phường N, TP. Q, Lê Nguyên B, Hoàng Gia Đ, Châu Hoàng N và Bùi Thị N đang đánh bạc thắng thua bằng tiền, dưới hình thức chơi bài binh xập xám với tổng số tiền sử dụng đánh bạc là 6.000.000 đồng thì bị phát hiện bắt giữ.

Bản thân các bị cáo đều là những người có đầy đủ sức khỏe, trình độ để nhận thức và điều khiển hành vi của mình nên phải biết đánh bạc dưới hình thức chơi bài binh xập xám nhằm thắng thua bằng tiền là hành vi vi phạm pháp luật nhưng do hám lợi bất chính các bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội với tổng số tiền sử dụng đánh bạc thu giữ tại chiếu bạc là 6.000.000 đồng. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Tp. Quy Nhơn truy tố các bị cáo Lê Nguyên B, Hoàng Gia Đ; Châu Hoàng N; Bùi Thị N về tội: “Đánh bạc”, quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.

Trong vụ án các bị cáo tham gia với vai trò đồng phạm giản đơn, cùng thực hiện hành vi phạm tội nên phải xử phạt các bị cáo một mức án tương xứng với hành vi đã gây ra.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo:

Hành vi đánh bạc của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm trật tự công cộng, nếp sống văn minh của xã hội, gây mất an ninh tại địa phương và là một trong những nguyên nhân gây phát sinh nhiều tệ nạn xã hội, làm tăng thêm sự phức tạp về tình hình trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Do đó, cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của từng bị cáo; trong đó bị cáo Đ có nhân thân xấu nên cần phải xử phạt nghiêm hơn các bị cáo B, N và N mới có tác dụng răn đe, phòng ngừa. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cần xem xét đầy đủ vai trò, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của từng bị cáo để áp dụng mức hình phạt tương xứng, thể hiện tính nghiêm minh và khoan hồng của pháp luật.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thì thấy rằng:

4.1 Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng: Các bị cáo Lê Nguyên B, Châu Hoàng N, Bùi Thị N có nhân thân tốt; bị cáo Hoàng Gia Đ có nhân thân xấu. Các bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

4.2. Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên các bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Các bị cáo Bì, N, N phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo N có cha ruột là liệt sỹ được xem xét áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm x khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên xử phạt các bị cáo một mức án có lý có tình để các bị cáo an tâm cải tạo.

Các bị cáo B, N được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, xét thấy không cần bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù thì các bị cáo B, N cũng có khả năng tự cải tạo tốt nên HĐXX áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự xử bị cáo hình phạt tù có điều kiện cũng không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Bị cáo N được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, là phụ nữ đã trên 60 tuổi nên HĐXX xét thấy áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo cũng đủ tác dụng giáo dục đối với bị cáo và đảm bảo tính khoan hồng của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự thì các bị cáo B, Đ, N còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đến năm mươi triệu đồng. Xét thấy tại phiên tòa các bị cáo khai không có nghề nghiệp, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra Công an TP. Quy Nhơn đã thu giữ: 03 hột xí ngầu; 01 tô sứ màu trắng; 01 bộ bài tây loại 52 lá, 01 tấm vải màu xanh; 05 bộ bài tây loại 52 lá chưa khui; số tiền 9.400.000 đồng.

Hội đồng xét xử xét:

Đối với số tiền 9.400.000 đồng; trong đó 6.000.000 đồng là số tiền của các bị cáo B, Đ, N, N dùng vào việc đánh bạc nên tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước; còn lại 3.400.000 đồng là tiền cá nhân của bị cáo Đ vứt tại chiếu bạc nên trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án. Đối với 03 hột xí ngầu; 01 tô sứ màu trắng; 01 bộ bài tây loại 52 lá, 01 tấm vải màu xanh; 05 bộ bài tây loại 52 lá chưa khui đang bị thu giữ do các bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi đánh bạc; đây là vật chứng của vụ án, không có giá trị kinh tế nên tịch thu tiêu hủy.

Về vấn đề khác: Đối với xe mô tô BKS 77G1 – 383.74 tạm giữ từ Lê Nguyên B: Quá trình điều tra xác định, xe mô tô này B khai đã mượn của Lê Tấn Đ (Sinh năm: 1988; Trú: Tổ 2, khu vực 7, phường N, Tp. Q) nhưng hiện nay Đ không có mặt tại địa phương nên chưa làm việc được. Làm việc với bà Nguyễn Thị C (Sinh năm: 1951; Trú: thôn Đ, xã P, huyện T, tỉnh B) là người đứng tên đăng ký sở hữu thì bà C cho biết xe mô tô này thuộc sở hữu của bà nhưng vào khoảng tháng 11 năm 2018, khi con trai bà C là Nguyễn Minh C (Sinh năm: 1983, ở cùng nhà) đang điều khiển xe mô tô này thì bị 03 thanh niên (không rõ lai lịch) chặn lại đoạn trước nhà bà thuộc thôn Đ, xã P, huyện T, tỉnh B rồi chiếm đoạt xe mô tô trên để “xiết nợ” con trai bà nhưng do lo sợ bị trả thù nên bà không trình báo cơ quan Công an. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Tp. Quy Nhơn đã chuyển xe mô tô BKS 77G1 - 383.74 kèm tài liệu có liên quan đến Công an huyện Tuy Phước để kiểm tra, xác minh làm rõ và xử lý theo quy định pháp luật.

Về án phí: Theo quy định tại các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; các bị cáo Lê Nguyên B, Hoàng Gia Đ, Châu Hoàng N mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo N là con liệt sỹ nên được miễn nộp tiền án phí 200.000 đồng.

Các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định đối với các bị cáo B, N và Đ là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử; đối với bị cáo N, Viện kiểm sát đề nghị xử phạt từ 18 tháng đến 24 tháng cải tạo không giam giữ là nghiêm khắc, không phù hợp với nhận định của HĐXX nên không chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i,s,x khoản 1 Điều 51; Điều 35, 58, Điều 65, 46 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 106; Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự

Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Lê Nguyên B, Hoàng Gia Đ; Châu Hoàng N; Bùi Thị N đều phạm tội: “Đánh bạc”.

2. Về hình phạt:

2.1 Xử phạt bị cáo Lê Nguyên B 10 (mười) tháng tù về tội: “Đánh bạc”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 20 (hai mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 06/01/2023.

Giao bị cáo Lê Nguyên B cho UBND phường N, Tp. Q, tỉnh B giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo có thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2.2 Xử phạt bị cáo Hoàng Gia Đ 09 (chín) tháng tù về tội: “Đánh bạc”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

2.3 Xử phạt bị cáo Châu Hoàng N 09 (chín) tháng tù về tội: “Đánh bạc”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 06/01/2023.

Giao bị cáo Châu Hoàng N cho UBND phường N, Tp. Q, tỉnh B giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo có thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2.4 Phạt tiền bị cáo Bùi Thị N số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) để sung công quỹ Nhà nước.

3. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu nộp vào Ngân sách Nhà nước: Số tiền 6.000.000 đồng.

- Tịch thu tiêu hủy: 03 hột xí ngầu; 01 tô sứ màu trắng; 01 bộ bài tây loại 52 lá, 01 tấm vải màu xanh; 05 bộ bài tây loại 52 lá chưa khui

- Trả lại cho bị cáo Hoàng Gia Đ số tiền 3.400.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

(Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 01 tháng 12 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự Tp. Quy Nhơn và ủy nhiệm chi lập ngày 05 tháng 12 năm 2022 tại số tài khoản 3949.0.1054089 của Chi cục Thi hành án dân sự Tp. Quy Nhơn).

4. Về án phí: Buộc các bị cáo Lê Nguyên B, Hoàng Gia Đ; Châu Hoàng N mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Bùi Thị N được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị cáo vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại địa phương nơi cư trú.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ