vanban.org

Bản án 01/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 04/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Vũ Đức T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Vũ Đức T 14 (mười bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt 10/10/2022. Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong số 1726/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh; còn nguyên dấu niêm phong. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Đức T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Vũ Đức T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẨM PHẢ
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2023/HS-ST
Ngày: 04-01-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ - TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thu Đông

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hiền và bà Nguyễn Thị Thủy

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Kim Phượng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố C, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: Ông Trần Xuân Vọng - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 01 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố C, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 202/2022/TLST-HS ngày 01 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 200/2022/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 12 năm 2022; Thông báo thay đổi lịch xét xử số: 02/2022/TB-TA ngày 23 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:

Vũ Đức T - tên gọi khác: không; sinh ngày xx tháng xx năm xxxx, tại thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; nơi thường trú: tổ B, khu B, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện tại: tổ N, khu B, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Vũ Đức T và bà: Vũ Thị V; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 10/10/2022, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

Người chứng kiến: ông Nguyễn Thắng V và ông Trịnh Xuân T, đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ 15 phút ngày 10/10/2022, tại khu vực tổ B, khu T, phường Cẩm T, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, Công an thành phố C bắt quả tang Vũ Đức T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, mục đích để sử dụng. Vật chứng thu giữ gồm: thu trong tay phải của T đang cầm 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, bên trong có 01 túi nilon kích thước (4x6)cm, chứa 0,235 gam chất tinh thể màu trắng, T khai là ma túy đá. Thu tại túi quần bên phải T đang mặc 01 điện thoại di động Samsung, vỏ màu đen, kèm 01 sim.

Tại Bản kết luận giám định số 1726/KL-KTHS ngày 15/10/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh, kết luận: chất tinh thể màu trắng trong 01 túi nilon thu giữ của Vũ Đức T là ma túy; loại: Methamphetamine; có khối lượng: 0,235 gam.

Tại Cơ quan điều tra, Vũ Đức T khai nhận: T sử dụng ma túy đá từ năm 2020. T và Tùng (không rõ lai lịch, địa chỉ) là bạn xã hội. Biết Tùng có sử dụng ma túy đá nên T hỏi xin Tùng về sử dụng. Khoảng 10 giờ ngày 10/10/2022, T đang ở nhà thì T gọi điện vào máy điện thoại Samsung của T, bảo đến đón và cho T ma túy đá sử dụng. Sau đó Tùng đi xe máy đến nhà đón T rồi chở ra ngõ cầu Ba Toa, phường Cẩm T thì dừng lại, Tùng đưa cho T 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long bên trong có 01 túi ma túy đá, rồi Tùng đi trước. T cầm ma túy đi bộ ra ngoài thì bị Công an bắt giữ. Đây là lần đầu T nhận ma túy từ Tùng.

Người chứng kiến ông Nguyễn Thắng V và ông Trịnh Xuân T trong quá trình điều tra có lời khai thể hiện về thời gian, địa điểm, vật chứng thu giữ được phù hợp với nhau và phù hợp lời khai nhận của bị cáo Vũ Đức T.

Tại bản Cáo trạng số: 208/CT-VKSCP ngày 29/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố C, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Vũ Đức T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Vũ Đức T thành khẩn khai báo, thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã viện dẫn và truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Đức T từ 13 tháng đến 16 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 10/10/2022.

Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng: Điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 - Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định; tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen, kèm 01 sim.

Bị cáo Vũ Đức T không tranh luận; tại lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Vũ Đức T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 10/10/2022; Biên bản kiểm tra điện thoại; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; Kết luận giám định cùng các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, đã được làm rõ tại phiên tòa, đủ cơ sở kết luận: vào hồi 10 giờ 15 phút ngày 10/10/2022, tại tổ 4, khu Thống Nhất, phường Cẩm Tây, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, Vũ Đức T có hành vi tàng trữ trái phép 0,235 gam chất ma túy, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng thì bị Công an bắt quả tang.

Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249- Bộ luật Hình sự, như Cáo trạng số 208/CT-VKSCP ngày 29/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố C truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật.

Về tính chất, mức độ thực hiện tội phạm:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quy định độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội vì ma túy là chất gây nghiện độc hại, không những ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, trí lực của người sử dụng mà còn là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự; biết và nhận thức được tác hại của ma túy, các quy định nghiêm cấm của Nhà nước nhưng chỉ vì thiếu ý thức rèn luyện tu dưỡng, sống buông thả nên đã bất chấp pháp luật, cố ý tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm thỏa mãn nhu cầu sử dụng của bản thân. Do đó, cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về áp dụng hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện, không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng của vụ án:

- Đối với ma túy hoàn lại sau giám định là chất Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu đen, kèm 01 sim (không xác định số sim). Bị cáo khai điện thoại này liên lạc với Tùng để Tùng cho ma túy và hẹn địa điểm giao nhận, dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Đối với đối tượng tên Tùng mà T khai là cho T ma túy, do không xác minh được lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ điều tra làm rõ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Vũ Đức T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Vũ Đức T 14 (mười bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt 10/10/2022.

Căn cứ: Điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong số 1726/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh; còn nguyên dấu niêm phong.

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu đen, bàn phím bấm, kèm 01 sim (không xác định số sim), trên sim có 4 dãy số: 8984, 04800, 03028, 31214 (điện thoại thu giữ của Vũ Đức T). Điện thoại đã qua sử dụng, đã cũ, không kiểm tra chất lượng bên trong.

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng số 46/BB-THA, ngày 02/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố C, tỉnh Quảng Ninh).

Buộc bị cáo Vũ Đức T phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Án xử công khai, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ