vanban.org

Bản án 01/2023/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Hải Dương Tuyên án 16/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về áp dụng pháp luật: Căn cứ khoản 4 Điều 175, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, điểm b khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự; Nghị quyết số 326/201…

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Song H phạm tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản". Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Song H 12 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 22/5/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Song H phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sun…"
  • Tòa quyết gì? Về áp dụng pháp luật: Căn cứ khoản 4 Điều 175, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, điểm b khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự; Nghị quyết số 326/201…
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HẢI DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2023/HS-ST
Ngày: 16/01/2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Trần Hữu Hiệu

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Ngô Thị Thơm

Bà Nguyễn Thị Bích Liên

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Mai Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 01 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 76/2022/TLST-HS ngày 30/11/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2023/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 01 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Song H, sinh năm 1981 tại tỉnh Hải Dương; nơi thường trú: Thôn C, xã P, huyện N, tỉnh Hải Dương; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; con ông Nguyễn Ngọc T và bà Hà Thị C; có vợ và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 01/QĐ-XPHC ngày 16/01/2006, Công an huyện L, tỉnh Hải Dương xử phạt 750.000 đồng về hành vi Kinh doanh hàng nhập lậu, H đã nộp phạt ngày 24/01/2006. Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 12/QĐ/XPVPHC ngày 16/9/2004, Công an thành phố D xử phạt 500.000 đồng về hành vi Đánh bạc, H đã nộp phạt ngày 23/9/2004; bị tạm giam từ ngày 22/5/2022 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương; có mặt.

- Người bào chữa: Luật sư Phạm Thế Đ - Văn phòng luật sư Thế Định thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Hải Dương

Địa chỉ: Số 193 đường Đ, phường A, thị xã K, tỉnh Hải Dương; có mặt.

- Bị hại: Anh Đậu Thế V, sinh năm 1989 và chị Hà Thị Th, sinh năm 1990

Địa chỉ: Thôn 2, xã T, huyện N, tỉnh Hải Dương; có mặt

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Hoàng Đình K, sinh năm 1971 và chị Dương Thị U, sinh năm 1973

Địa chỉ: Số 16 I, phường A, thành phố D, tỉnh Hải Dương; có mặt

- Người làm chứng:

+ Chị Nguyễn Thị Y; vắng mặt.

+ Anh Nguyễn Hoàng G; vắng mặt.

+ Bà Hà Thị C; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do quen biết với nhau từ trước, ngày 17/12/2020 Nguyễn Song H đến nhà của anh Đậu Thế V, sinh năm 1989 ở thôn 2, xã T, huyện N, tỉnh Hải Dương mượn chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios G màu trắng, biển số 34A-302.09 của anh V để có phương tiện đi lại trong thời gian 01 tuần; anh V đồng ý và giao xe ô tô cho H cùng toàn bộ giấy tờ gốc của xe ô tô (Đăng ký, đăng kiểm, bảo hiểm xe). Khi giao xe và giấy tờ xe chỉ có hai người, không lập giấy tờ giao nhận xe. Quá trình sử dụng xe ô tô của anh V, ngày 22/12/2020, do cần tiền để đánh bạc trên mạng Internet và chi tiêu cá nhân, H đã mang xe ô tô của anh V cầm cố vay số tiền 300.000.000 đồng của anh Hoàng Đình K sinh năm 1971 ở số 16 I, phường A, thành phố Hải Dương với lãi suất 2.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày (tương đương 73,0%/năm), thời hạn vay 01 tháng. Khi vay tiền, H nói với anh K chiếc xe ô tô là của H mua lại của anh V chưa sang tên; anh K nói không kinh doanh cầm đồ, đồng ý cho vay và yêu cầu H viết giấy bán xe ô tô giao lại cho anh để làm tin và thỏa thuận sau một tháng kể từ ngày viết giấy bán xe ô tô, H trả lại tiền đã vay và lấy lại xe ô tô. V đã giao xe ô tô và giấy tờ xe cho anh K. Khi nhận giấy tờ xe, anh K biết chủ đăng ký xe là Đậu Thế V nhưng không hỏi H về hợp đồng mua bán xe. Sau khi thỏa thuận xong, anh K giao cho H số tiền 220.000.000 đồng. Ngày 23/12/2020 và ngày 27/12/2020, anh K chuyển lần lượt các số tiền 50.000.000 đồng và 30.000.000 đồng từ tài khoản số 109006254256 của anh mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam- Chi nhánh khu công nghiệp Hải Dương vào tài khoản số 46610000357251 mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam- Chi nhánh Cầu Giấy, Hà Nội của H. Ngày 23/12/2020, H nộp 200.000.000 đồng vào tài khoản số 46610000357251 của mình. Số tiền H nhận của anh K, H đã sử dụng hết 189.000.000 đồng để chơi game đánh bài và xóc đĩa trúng thưởng tại trang game “Ku.bet” và trang game “V9.bet”

trên

trang

điện

tử

“http://www.kutrangchuvip.com” và“http://v9beta.net” có địa chỉ máy chủ tại Mỹ, với tài khoản đăng ký trang game “Ku.bet” là “HABEO123”, trang “V9.bet” là “habeo123”; còn lại 111.000.000 đồng H sử dụng trả nợ và chi tiêu cá nhân hết. Do đó H không có khả năng trả tiền cho anh K để lấy xe ô tô trả lại cho anh V.

Quá hạn không thấy H trả xe ô tô, ngày 29/12/2020 anh V gọi điện thoại yêu cầu H trả xe thì H nói cho một người bạn mượn xe. Qua thiết bị định vị xe, anh V phát hiện xe của mình đang ở địa chỉ nhà anh K. Anh V yêu cầu H cùng đến nhà anh K thì được biết H đã cầm cố xe ô tô của anh V cho anh K để vay tiền, H và anh V đã thỏa thuận trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày viết giấy bán xe ô tô (ngày 22/12/2020), H sẽ trả tiền cho anh K và lấy xe về cho anh V. Do biết H không có khả năng trả tiền để lấy lại xe ngay nên anh V đồng ý trong 01 tháng sẽ lấy lại xe ô tô về. Hết thời hạn thỏa thuận với anh K, không thấy H mang xe ô tô đến trả thì anh V, anh K điện thoại cho H yêu cầu trả tiền cho anh K để lấy xe ô tô trả cho anh V. Do không còn khả năng trả tiền cho anh K nên H đề nghị cho thêm ít ngày để thu xếp tiền trả cho anh K và lấy xe ô tô trả cho anh V. Ngày 05/02/2021, H và anh V đến nhà anh K để thỏa thuận lấy xe ô tô về. H đưa ra thỏa thuận sẽ chủ động viết xam kết nhận nợ anh K 300.000.000 đồng để anh K trả xe ô tô cho anh V, anh K đồng ý. Sau đó H cùng anh V, anh K và chị Dương Thị U (vợ anh K) đến nhà bố mẹ đẻ của H (ông Nguyễn Ngọc T, bà Hà Thị C). Tại nhà bố mẹ đẻ của H, H hứa hẹn sẽ thu xếp trả tiền cho anh K vào tháng 01/2021 âm lịch và viết cam kết với nội dung “...Đến ngày...tháng...năm 2021 tôi và gia đình chắc chắn trả đầy đủ số tiền 300.000.000 đồng cho anh K và chị U....”, có chữ ký của bà C đại diện gia đình xác nhận. Sau đó, H và anh V cùng quay lại nhà anh K, anh K dã viết nội dung thỏa thuận vào mặt sau giấy bán xe ô tô ngày 22/12/2020 thể hiện: anh K giao tạm xe ô tô cho anh V nhưng giữ lại đăng ký xe cho đến khi H trả lại toàn bộ số tiền bán xe cho anh K thì anh V sẽ nhận lại giấy đăng ký xe nói trên, rồi anh V, anh K và H ký vào giấy. Ngày 10/02/2021, H nhờ em trai là Nguyễn Hoàng G chuyển khoản trả số tiền lãi 10.000.000 đồng cho anh K. Quá hạn cam kết không thấy H cùng gia đình thực hiện việc trả tiền, anh K và anh V nhiều lần điện thoại yêu cầu H trả tiền nhưng H khất lần nên đến ngày 04/8/2021, 06/8/2021, anh K, anh V có đơn tố cáo hành vi của H đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D.

Tại Kết luận định giá tài sản số 05 ngày 17/3/2022, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân thành phố Hải Dương kết luận: Giá trị của xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios, màu trắng, biển số 34A- 302.09 tại thời điểm ngày 22/12/2020 là 541.260.000 đồng.

Tại Cáo trạng số 84/CT-VKS-P1 ngày 30/11/2022, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Nguyễn Song H tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" theo khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 4 Điều 175, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; tuyên bố bị cáo phạm tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản"; xử phạt bị cáo từ 12 năm đến 13 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/5/2022. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải trả lại cho vợ chồng ông Khanh 210.000.000 đồng. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng; Về vật chứng: Giao 01 điện thoại di động của bị cáo cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hải Dương tiếp tục điều tra xử lý hành vi đánh bạc của bị cáo và trả lại cho anh V 01 Giấy đăng ký xe ô tô; Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo khai nhận hành vi như trên và xác định khi cầm cố xe cho anh K để vay tiền, bị cáo không có tài sản và không có nguồn tài sản nào để có thể trả tiền cho anh K. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lại kết luận của Hội đồng định giá về giá trị chiếc xe ô tô 34A- 302.09 và giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người bào chữa: Đồng ý với tội danh, điều khoản áp dụng đối với bị cáo như luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lại kết quả định giá đối với chiếc xe ô tô bị cáo chiếm đoạt và áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự để xét xử bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.

Bị hại không đề nghị giải quyết về dân sự, đề nghị nhận lại giấy đăng ký xe ô tô; về trách nhiệm hình sự đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan xác định mặc dù viết giấy mua bán xe ô tô với bị cáo H nhưng thực tế hai bên thỏa thuận anh K, chị U cho bị cáo vay 300.000.000 đồng, lãi suất 2.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, thời hạn vay 01 tháng. Anh K và chị U cũng xác định đã được em trai bị cáo trả 10.000.000 đồng, vợ bị cáo trả 80.000.000 đồng và yêu cầu bị cáo phải trả số tiền gốc còn lại là 210.000.000 đồng, không yêu cầu bị cáo trả lãi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng: Tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo H có khiếu nại về kết quả định giá tài sản. Tại công văn số 03/CV-HĐĐG ngày 12/7/2022, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - UBND thành phố D đã giải thích rõ nguyên tắc, căn cứ, thời điểm định giá tài sản đối với xe ô tô Toyota Vios G màu trắng, biển số 34A-302.09. Hội đồng xét xử thấy trình tự thủ tục, căn cứ định giá của Hội đồng định giá đảm bảo quy định của pháp luật, kết quả định giá không làm bất lợi cho bị cáo nên ý kiến của bị cáo về giá trị xe ô tô Toyota Vios G màu trắng, biển số 34A-302.09 là không có căn cứ chấp nhận. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 17/12/2020 tại nhà của anh Đậu Thế V, địa chỉ: Thôn 2, xã T, huyện N, tỉnh Hải Dương, Nguyễn Song H mượn chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios G màu trắng, biển số 34A-302.09 trị giá 541.260.000 đồng của anh V để làm phương tiện đi lại trong thời gian 01 tuần. Quá trình sử dụng xe ô tô của anh V, ngày 22/12/2020, do cần tiền sử dụng vào việc chơi game trúng thưởng và chi tiêu cá nhân nên H đã mang xe ô tô của anh V cầm cố vay số tiền 300.000.000 đồng của anh Hoàng Đình K, sinh năm 1971, địa chỉ: Số 16 I, phường A, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương. Do đã sử dụng hết số tiền trên nên H không còn khả năng trả tiền cho anh K để lấy xe ô tô trả lại cho anh V.

Hành vi của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện vì tư lợi. Tại phiên tòa bị cáo xác định khi cầm cố xe cho anh K để vay tiền, bị cáo không có tài sản và không có nguồn tài sản nào để có thể trả tiền cho anh K. Như vậy, rõ ràng bị cáo có ý thức chiếm đoạt và định đoạt chiếc xe ô tô của mượn của anh V để có tiền tiêu sài. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" theo quy định tại khoản 4 Điều 175 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo; bố mẹ đẻ bị cáo được tặng thưởng Huân chương chiến sỹ vẻ vang và Huy chương kháng chiến nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo đã tác động để gia đình bồi thường cho người có quyền lợi liên quan 90.000.000 đồng, đây không phải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo.

. Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nhưng nhân thân đã từng bị xử phạt về các hành vi đánh bạc và kinh doanh hàng nhập lậu.

. Xét hành vi của bị cáo gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để trừng trị, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Bị cáo chỉ được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên đề nghị của người bào chữa về việc xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là không có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 54 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

. Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị hại không yêu cầu về trách nhiệm dân sự. Bị cáo cầm cố xe ô tô của anh V để vay anh K, chị U 300.000.000 đồng. Bị cáo đã tác động để gia đình trả cho anh K, chị U 90.000.000 đồng nên cần buộc bị cáo phải trả cho vợ chồng anh K 210.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Đối với chiếc điện thoại đã thu giữ của bị cáo không dùng vào việc phạm tội nhưng bị cáo dùng để chơi game trúng thưởng trên mạng internet nên cần giao lại cho Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Hải Dương để tiếp tục điều tra hành vi của bị cáo theo Quyết định tách hành vi và tài liệu số 10/QĐ - VPCQCSĐT ngày 15/11/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Hải Dương. Đối với 01 giấy đăng ký xe ô tô thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bị hại nên cần trả lại cho bị hại.

. Về án phí: Bị cáo bị kết tội và phải bồi thường dân sự nên phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Những vấn đề khác: Hành vi bị cáo H dùng 189.000.000 đồng trong tổng số tiền vay của anh K để đánh bạc với hình thức cược điểm chơi game trúng thưởng trên mạng Internet, hiện chưa có tài liệu làm căn cứ đánh giá hành vi của H có dấu hiệu phạm vào tội Đánh bạc theo quy định tại Điều 321 Bộ luật Hinh sự. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Hải Dương đã ra quyết định số 10 ngày 15/11/2022 tách hành vi và tài liệu liên quan để tiếp tục xác minh, làm rõ để xử lý sau đối với H là phù hợp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Về áp dụng pháp luật: Căn cứ khoản 4 Điều 175, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, điểm b khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

2. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Song H phạm tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản".

3. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Song H 12 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 22/5/2022.

4. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Song H phải trả cho anh Hoàng Đình K và chị Dương Thị U 210.000.000 đồng (Hai trăm mười triệu đồng).

Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

5. Về xử lý vật chứng:

Giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hải Dương 01 điện thoại di động Samsung A71 màu đen lắp sim số thuê bao 0987214681 của Nguyễn Song H để tiếp tục điều tra. (Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20/12/2022 giữa Công an tỉnh Hải Dương và Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương).

Trả lại cho anh Đậu Thế V 01 đăng ký xe ô tô số 054272 mang tên Đậu Thế V (hiện lưu tại hồ sơ vụ án).

6. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Song H phải chịu 200.000 đồng án phí sơ thẩm hình sự và 10.500.000 đồng án phí sơ thẩm dân sự.

7. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án về những nội dung trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ