- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn T - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về áp dụng điều luật: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 (áp dụng thêm khoản 2, Điều 51 đối với Nguyễn Văn Xuân); Điều 35
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật tố Nghị
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2023/HS-ST Ngày: 11 - 01 -2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ, TỈNH NINH BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Ngọc Hà
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Cử;
2. Ông Lê Xuân Cung
Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Minh Thư – Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Bà Đào Thị Ngoan - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 01 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 43/2022/TLST
- HS ngày 21 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2022/ QĐXXST – HS ngày 30 tháng 12 năm 2022 đối với các bị cáo:
1. Bị cáo Ngô Xuân T tên gọi khác không, sinh năm 1978; Nơi sinh: N B; Nơi cư trú: Thôn Q T, xã Y T, huyện Y M, tỉnh N B; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Ngô Xuân V ( đã chết); con bà Đinh Thị Ch; Vợ Nguyễn Thị H, con có 2 con, con lớn sinh năm 2000, con nhỏ sinh năm 2009; tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13/11/2022 đến ngày 19/11/2022, áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang chấp hành Lệnh Cấm đi khỏi nơi cư trú số 39 ngày 21/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Yên Mô (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
2. Bị cáo Nguyễn Văn X tên gọi khác không, sinh năm 1976; Nơi sinh: N B; Nơi cư trú: Xóm Th, xã Y T, huyện Y M, tỉnh N B; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo; không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn T ( đã chết); con bà Phạm Thị Ng; Vợ Nguyễn Thị B, con có 2 con, con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2009; tiền án: Không; tiền sự: Không. Nhân thân ngày 19/01/2018, Công an huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 71 phạt tiền 1.000.000đồng về hành vi đánh bạc” Ngày 31/01/2018 bị cáo nộp tiền phạt. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13/11/2022 đến ngày 19/11/2022, áp dụng biện
1
pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang chấp hành Lệnh Cấm đi khỏi nơi cư trú số: 40 ngày 21/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Yên Mô (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
3. Bị cáo Phạm Văn Đ tên gọi khác không, sinh năm 1973; Nơi sinh: N B; Nơi cư trú: Xóm C, xã Y T, huyện Y M, tỉnh N B; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Văn Đ; con bà Phạm Thị H; Vợ Nguyễn Thị T, con có 3 con, con lớn nhất sinh năm 2001, con nhỏ nhất sinh năm 2014; tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13/11/2022 đến ngày 19/11/2022, áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang chấp hành Lệnh Cấm đi khỏi nơi cư trú số: 41 ngày 21/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Yên Mô (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
4. Bị cáo Bùi Đức V tên gọi khác không, sinh năm 1989; Nơi sinh: N B; Nơi cư trú: Xóm C, xã Y T, huyện Y M, tỉnh N B; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Bùi Văn D; con bà Phạm Thị Th; Vợ Đặng Thị H, con có 2 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2015; tiền án: Tại bản án số 20/2021/HSST ngày 19/3/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương xử phạt 42 tháng tù về tội “ Vi phạm quy định về tam gia giao thông đương bộ” bị cáo kháng cáo, tại bản án số 57/2021/HSPT ngày 24/7/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xử phạt 36 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 5 năm về tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đương bộ” án phí 200.000đồng. Ngày 19/7/2021 bị cáo nộp tiền án phí, bị cáo đang chấp hành hình phạt tù cho hưởng án treo: Tiền sự: Ngày 14/7/2022, UBND xã Yên Từ, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình ra Quyết định xử phạt hành chính phạt tiền 3.000.000 đồng về hành vi xúc phạm danh dự nhân phẩm người khác. Ngày 17/11/2022 bị cáo chấp hành nộp phạt; nhân thân ngày 27/11/2011 Công an huyện Yên Mô xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 1.000.000 đồng về hành vi “ gây rối trật tự công cộng” Ngày 25/9/2015 Công an huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình ra quyết định xử phạt hành chính, 750.000 đồng về hành vi “ sử dụng trái phép chất ma túy” Bị cáo bị tạm giữ từ phạt tiền ngày 13/11/2022 đến ngày 19/11/2022, áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang chấp hành Lệnh Cấm đi khỏi nơi cư trú số: 42 ngày 21/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Yên Mô (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
5. Bị cáo Phạm Quốc T tên gọi khác không, sinh năm 1971; Nơi sinh: N B; Nơi cư trú: Xóm Ch, xã Y T, huyện Y M, tỉnh N B; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Văn T, con bà Nguyễn Thị D ( đều đã chết); Vợ Nguyễn Thị Nh, con có 2 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2009; tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13/11/2022 đến ngày 19/11/2022, áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang chấp hành Lệnh Cấm đi khỏi nơi cư trú số: 43 ngày 21/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Yên Mô (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
2
6. Bị cáo Nguyễn Văn T tên gọi khác không, sinh năm 1977; Nơi sinh: N B; Nơi cư trú: Xóm Th, xã Y T, huyện Y M, tỉnh N B; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn B; con bà Phan Thị S; Vợ Ninh Thị Kim Th, con có 3 con, con lớn nhất sinh năm 2006, con nhỏ nhất sinh năm 2014; tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13/11/2022 đến ngày 19/11/2022, áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang chấp hành Lệnh Cấm đi khỏi nơi cư trú số: 44 ngày 21/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Yên Mô (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
7. Bị cáo Nguyễn Văn Ch tên gọi khác không, sinh năm 1970; Nơi sinh: N B; Nơi cư trú: Xóm Ch, xã Y T, huyện Y M, tỉnh N B; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa 4/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn H ( đã chết); con bà Bùi Thị T; Vợ Nguyễn Thị Nh, con có 2 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2012; tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13/11/2022 đến ngày 19/11/2022, áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang chấp hành Lệnh Cấm đi khỏi nơi cư trú số: 45 ngày 21/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Yên Mô (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Bùi Thị T, sinh năm 1942, nơi cư trú: Xóm Chung, xã Yên Từ, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình ( vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Tối ngày 13/11/2022, Ngô Xuân T, Phạm Văn Đ, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn Ch, Phạm Quốc T cùng đi đám mừng tân gia nhà bà Bùi Thị T tại xóm Chung, xã Yên Từ, huyện Yên Mô, khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi ăn xong và cùng ngồi uống nước tại gian phòng khách, T nhìn thấy bộ bài để ở bàn uống nước nên rủ Đ, T, Ch, X, T “Anh em mình làm tý liêng” hiểu ý Tươi rủ đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức đánh “Liêng” nên tất cả đồng ý, sau đó Tươi và cả nhóm đi vào phòng ngủ nhà bà T. T đưa ra mức sát phạt đặt cửa 10.000 đồng, cao nhất là 50.000 đồng và chia ván bài đầu tiên cho sáu người đánh bạc đến khoảng 21 giờ 00 phút cùng ngày, Bùi Đức V đến xin vào đánh bạc và được 6 người đồng ý. Khi V vào đánh mức sát phạt và hình thức chơi không thay đổi. Bà T đang dọn dẹp bên ngoài sân nhà văn hóa xóm Chung. Đến khoảng 21 giờ 40 phút cùng ngày, khi T, V Đ, T, Ch, X và T đang đánh bạc thì bị Công an huyện Yên Mô phát hiện bắt quả tang, thu giữ bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài đã qua sử dụng và tổng số tiền 5.410.000 đồng
Quá trình điều tra xác định tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào đánh bạc là 5.410.000 đồng, trong đó Ngô Xuân T sử dụng số tiền 880.000 đồng, khi bị bắt thua 120.000 đồng; Phạm Văn Đ sử dụng số tiền 1.020.000 đồng, khi bị bắt thua 860.000 đồng; Nguyễn Văn X sử dụng số tiền 2.150.000 đồng, khi bị bắt thắng 360.000 đồng; Bùi Đức V sử dụng số tiền 640.000đồng, khi bị bắt thắng
3
820.000 đồng; Phạm Quốc T sử dụng số tiền 300.000 đồng, khi bị bắt thua 210.000 đồng; Nguyễn Văn T sử dụng số tiền 270.000 đồng, khi bị bắt thắng 150.000 đồng; Nguyễn Văn Ch sử dụng số tiền 150.000 đồng, khi bị bắt thua 140.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số: 01/CT-VKS ngày 20 tháng 12 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô đã truy tố các bị can: Ngô Xuân T, Phạm Văn Đ, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn Ch, Nguyễn Văn X, Phạm Quốc T và Bùi Đức V ra trước Tòa án nhân dân huyện Yên Mô để xét xử về tội: “Đánh bạc” theo khoản 1, khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:
1.Tuyên bố: Các bị cáo Ngộ Xuân T, Phạm Văn Đ, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn Ch, Nguyễn Văn X, Phạm Quốc T và Bùi Đức V phạm tội “Đánh bạc”
2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; (Riêng bị cáo X được áp dụng thêm khoản 2 Điều 51); Điều 35 đối với các bị cáo: Ngô Xuân T, Phạm Văn Đ, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn Ch, Nguyễn Văn X, Phạm Quốc T.
+ Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 56; khoản 6 Điều 65; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Bùi Đức Vương.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự. Các điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 6, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án.
Xử phạt bị cáo Ngô Xuân T từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng
Xử phạt các bị cáo Nguyễn Văn X, Phạm Văn Đ mỗi bị cáo 24.000.000 đồng đến 27.000.000 đồng
Xử phạt các bị cáo Phạm Quốc T, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn Ch mỗi bị cáo 23.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng
Xử phạt bị cáo Bùi Đức V từ 06 tháng đến 09 tháng tù về tội “Đánh bạc".
Tổng hợp với hình phạt 36 tháng tù của bản án số 57/2021/HSPT ngày 24/7/2021 của Tòa án nhân dân Tỉnh Hải Dương. Buộc Bùi Đức V phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án; thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án được trừ đi 6 ngày tạm giữ từ ngày 13/11/2022 đến ngày 19/11/2022.
+ Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
3. Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 5.410.000đ (Năm triệu bốn trăm mười nghìn đồng)
Tịch thu tiêu hủy: 52 quân bài tú lơ khơ, cũ đã qua sử dụng.
4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 6, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức
4
thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án. Buộc các bị cáo Ngô Xuân T, Phạm Văn Đ, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn Ch, Nguyễn Văn X, Phạm Quốc T, Bùi Đức V mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo cho rằng bị xét xử là đúng người, đúng tội. Lời nói sau cùng tất cả các bị cáo đều đề nghị được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Yên Mô, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Lời khai của các bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ để xác định. Khoảng 20 giờ 40 phút ngày 13/11/2022, tại nhà bà Bùi Thị T ở xóm Chung, xã Yên Từ, huyện Yên Mô, Ngô Xuân T, Phạm Văn Đ, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn Ch, Nguyễn Văn X, Phạm Quốc T và Bùi Đức V đã có hành vi đánh bạc trái phép được thua bằng tiền với hình thức đánh “ Liêng” với tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 5.410.000 đồng.
Hành vi dùng bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài để đánh “Liêng” được thua bằng tiền, để sát phạt nhau nêu trên mà các bị cáo thực hiện đã phạm tội đánh bạc, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự.
Tại Điều 321 của Bộ luật hình sự quy định
1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc vi phạm quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”
2.......
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”
Bản Cáo trạng số 01/CT– VKS ngày 20/12/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô đã truy tố các bị cáo Ngô Xuân Tươi và đồng phạm với tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ đúng pháp luật.
5
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự an toàn công cộng, ảnh hưởng xấu đến tình hình trị an ở địa phương. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi do cố ý, các bị cáo nhận thức rõ được đánh bạc bị Nhà nước cấm, từ cờ bạc dẫn đến hàng loạt các loại tội phạm khác. Để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật thì cần thiết phải đưa ra xét xử với mức hình phạt nghiêm khắc, có như vậy mới nhằm ngăn chặn tệ nạn đánh bạc nói riêng và phòng ngừa tội phạm chung trên địa bàn.
Xét về vị trí vai trò: Trong vụ án không có sự phân công bàn bạc từ trước, các bị cáo cùng nhau đánh bạc khi được T rủ, Tươi cũng là người quy định mức sát phạt nên trong vụ án T là người có vai trò chính, sau đó đến Nguyễn Văn X, Phạm Văn Đ là người có số tiền dùng vào việc phạm tội nhiều hơn các bị các khác nên X và Đ có vai trò thứ hai; sau đó lần lượt đến Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn Ch, Phạm Quốc T và Bùi Đức V.
Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
+ Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo Ngô Xuân T, Phạm Văn Đ, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn Ch, Nguyễn Văn X, Phạm Quốc T phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay các bị cáo thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự ( riêng bị cáo X bố đẻ được Nhà nước tặng huân chương kháng chiến, nên bị cáo được áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự); Bị cáo Bùi Đức V thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
+ Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Ngô Xuân T, Phạm Văn Đ, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn Ch, Nguyễn Văn X, Phạm Quốc T không có tình tiết tăng nặng.
Riêng bị cáo Bùi Đức V phạm tội khi đang thi hành bản án số 57/2021/HSPT ngày 24/7/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương, xử phạt 36 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 5 năm về tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đương bộ” án phí 200.000đồng. Ngày 19/7/2021 bị cáo nộp tiền án phí, bị cáo đang chấp hành hình phạt tù cho hưởng án treo. Tiền sự: Ngày 14/7/2022, UBND xã Yên Từ, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình ra Quyết định xử phạt hành chính phạt tiền 3.000.000 đồng về hành vi xúc phạm danh dự nhân phẩm người khác. Ngày 17/11/2022 bị cáo chấp hành nộp phạt; nhân thân ngày 27/11/2011 Công an huyện Yên Mô xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 1.000.000 đồng về hành vi “ gây rối trật tự công cộng” Ngày 25/9/2015 Công an huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình ra quyết định xử phạt hành chính, phạt tiền 750.000 đồng về hành vi “ sử dụng trái phép chất ma túy” Như vậy lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Các bị cáo: Ngô Xuân T, Phạm Văn Đ, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn Ch, Nguyễn Văn X, Phạm Quốc T là người có nhân thân tốt, nhất thời phạm tội, không có tiền án, tiền sự, quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo,
6
các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự, do đó chỉ cần xử phạt các bị cáo bằng hình phạt tiền là hình phạt chính cũng giúp các bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình.
Đối với Bùi Đức V đang chấp hành án phạt tù cho hưởng án treo. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người có nhân thân xấu đã từng bị đưa ra xét xử về tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”với mức hình phạt 36 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm ngày 24/7/2021. Bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân, có ý thức coi thường pháp luật, đang trong thời gian chấp hành hình phạt tù cho hưởng án treo nay lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội mới, điều này thể hiện bị cáo là người khó giáo dục, cải tạo. Do đó cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống chung của xã hội một thời gian để bị cáo nhận thức được việc làm của mình sửa chữa thành công dân tốt.
Về tổng hợp hình phạt của nhiều bản án: Tại bản án số 57/2021/HS-PT ngày 24/7/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xử phạt Bùi Đức V 36 ( Ba mươi sáu) tháng tù cho hưởng án treo về tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Do bị cáo phạm tội mới trong khi đang chấp hành hình phạt tù cho hưởng án treo nên khi quyết định hình phạt của tội mới tổng hợp với hình phạt của bản án trước theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
Đối với hình phạt bổ sung, bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Vương.
Trong vụ án này còn có, bà Bùi Thị T là chủ nhà, khi các bị cáo đánh bạc tại nhà mình bà Tâm không có nhà, không biết các bị cáo đánh bạc tại nhà mình, bà T không được hưởng lợi gì do đó bà Tâm không vi phạm pháp luật.
Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:
+ Đối với số tiền 5.410.000 đồng đã thu giữ, là tiền liên quan đến hành vi phạm tội cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
+ Đối với 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài đã cũ qua sử dụng là vật chứng quan đến hành vi phạm tội cần tịch thu tiêu hủy. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Các bị cáo bị kết án, nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo hình Điều 6, Điều 23 quy định của pháp luật. Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án.
Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về áp dụng điều luật: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 (áp dụng thêm khoản 2, Điều 51 đối với Nguyễn Văn Xuân); Điều 35
7
đối với các bị cáo: Ngô Xuân T, Phạm Văn Đ, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn Ch, Nguyễn Văn X, Phạm Quốc T.
+ Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 56; khoản 6 Điều 65; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Bùi Đức V
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự. Các điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 6, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án.
2. Tuyên bố các bị cáo: Ngô Xuân T, Phạm Văn Đ, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn Ch, Nguyễn Văn X, Phạm Quốc T, Bùi Đức V phạm tội “ Đánh bạc”.
3 . Về hình phạt:
3.1. Xử phạt bị cáo Ngô Xuân T 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng) 3.2. Xử phạt các bị cáo Nguyễn Văn X, Phạm Văn Đ mỗi bị cáo 24.000.000 đồng (Hai mươi tư triệu đồng);
3.4. Xử phạt các bị cáo Phạm Quốc T, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn Ch mỗi bị cáo 23.000.000 đồng (Hai mươi ba triệu đồng);
3.5. Xử phạt bị cáo Bùi Đức V 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc” Tổng hợp với hình phạt 36 tháng tù của bản án số 57/2021/ HSPT ngày 24/7/2021 của Tòa án nhân dân Tỉnh Hải Dương. Buộc Bùi Đức V phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 42 (Bốn mươi hai) tháng tù ( được trừ đi 06 ngày tạm giữ từ ngày 13/11/2022 đến ngày 19/11/2022), thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Miễn hình phạt bổ sung bằng phạt tiền đối với bị cáo
4. Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:
4.1 Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 5.410.000 đồng (Năm triệu bốn trăm mười nghìn đồng)
4.2 Tịch thu tiêu hủy: 52 quân bài tú lơ khơ, cũ đã qua sử dụng.
(Chi tiết vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20 tháng 12 năm 2022 và ủy nhiệm chi lập ngày 20 tháng 12 năm 2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Mô và Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Mô).
5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo Ngô Xuân T, Phạm Văn Đ, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn Ch, Nguyễn Văn X, Phạm Quốc T và Bùi Đức V mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
Án xử công khai sơ thẩm báo để các bị cáo biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao cho họ hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
8
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận : - TAND tỉnh Ninh Bình; - VKSND tỉnh Ninh Bình; - VKSND huyện Yên Mô; - Công an huyện Yên Mô; - Chi cục THADS huyện Yên Mô; - UBND xã nơi các bị cáo cư trú; - Sở Tư pháp Ninh Bình, - Phòng HSNV Công an tỉnh Ninh Bình - Các bị cáo; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án - Lưu hộ sơ vụ án. 9 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Phan Ngọc Hà |