- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thị Thu Bình phạm tội mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị Thu B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YL TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2023/HS-ST Ngày: 12/01/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YL, TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Tuấn Anh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phùng Duy Nam
Ông Thẩm Văn Minh
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Huy - Thư ký Toà án nhân dân huyện YL, tỉnh Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện YL, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Nga - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 01 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện YL, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 51/2022/TLST-HS ngày 23 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2022/QĐXXST-HS, ngày 29 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Lê Thị Thu B; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 20/5/1984 tại xã L, huyện YL, tỉnh Phú Thọ; Nơi cư trú: Khu S, xã L, huyện YL, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Bố đẻ: Lê Văn X, sinh năm 1957; Mẹ đẻ: Trần Thị Q, sinh năm 1960; Con: Có 01 con, sinh năm 2004; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tốt. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 19/11/2022 đến ngày 22/11/2022 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Phú Thọ (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Bích Thủy - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Phú Thọ (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Đinh Văn V, sinh năm 2000 (vắng mặt) Nơi cư trú: Khu D, xã T, huyện YL, tỉnh Phú Thọ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 12 giờ 20 phút ngày 19/11/2022, Công an huyện YL phối hợp với Công an xã L tiến hành tuần tra tại khu T, xã L, huyện YL thì phát hiện Đinh Văn V, sinh năm 2000 ở khu D, x T, huyện Yên Lập có biểu hiện nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy. Tổ công tác kiểm tra đ thu giữ 01 tờ giấy hai mặt màu trắng, chữ màu xanh có kẻ ô; 01 xi lanh nhựa màu trắng đ qua sử dụng có bám dính dung dịch màu nâu. V khai nhận đây là dụng cụ V vừa D để sử dụng ma túy, về nguồn gốc số ma túy có được để sử dụng, V mua của Lê Thị Thu B, sinh năm 1984 ở Khu S, xã L, huyện YL với giá 500.000 đồng. Tổ công tác đ lập biên bản, niêm phong vật chứng chuyển về Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện YL giải quyết theo thẩm quyền.
Căn cứ lời khai của Đinh Văn V, cơ quan cảnh sát điều tra đ tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Thị Thu B ở khu S, xã L, huyện YL. Kết quả khám xét thu giữ: 01 túi nilon màu hồng bên trong có đựng 10 ống nhựa màu trắng trong suốt bịt kín hai đầu, bên trong đều có chứa chất bột cục màu trắng (B khai nhận là ma túy B tàng trữ để bán); 01 điện thoại di động nh n hiệu OPPO A15S có gắn thẻ sim số 0987659680; 01 căn cước công dân số 025184003843 mang tên Lê Thị Thu B và số tiền 1.421.000 đồng.
Tại cơ quan cảnh sát điều tra, B khai nhận: Khoảng 12 giờ ngày 19/11/2022 khi B đang ở nhà thì có Đinh Văn V đến nhà hỏi mua 01 gói ma tuý. B đồng ý và bán cho V 01 gói ma túy với giá 500.000 đồng. Số tiền 1.421.000 đồng Cơ quan cảnh sát điều tra thu giữ trong đó có 500.000 đồng là tiền B bán ma túy cho V, còn 921.000 đồng là tiền của B có, còn 10 ống nhựa bên trong chứa chất bột cục màu trắng Cơ quan cảnh sát điều tra thu giữ, mục đích của B tàng trữ để bán. Về nguồn gốc số ma túy B bán cho Đinh Văn V và tàng trữ để bán là của một người tên V ở x X cho B.
Ngày 19/11/2022 cơ quan CSĐT Công an huyện YL đ ra Quyết định số 67, số 68 trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ giám định chất ma tuý tại tờ giấy màu trắng, xi lanh nhựa thu giữ của Đinh Văn V và trong 10 ống nhựa màu trắng thu giữ tại nhà ở của Lê Thị Thu B.
Tại Bản kết luận giám định số 1594/KL-KTHS ngày 21/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ đ kết luận đối với chất ma tuý tại tờ giấy màu trắng, xi lanh nhựa thu giữ của Đinh Văn V:
- Chất bột màu trắng bám dính trên bề mặt 01 tờ giấy hai mặt đều màu trắng, có chữ viết màu xanh, có kẻ ô trong bì niêm phong gửi đến giám định là ma tuý, có khối lượng là 0,000 gam, loại Heroin.
- Trong dung dịch màu nâu bám dính trong 01 xi lanh nhựa màu trắng, loại 03ml/cc đã qua sử dụng trong bì niêm phong gửi đến giám định có tìm thấy chất ma tuý, loại: Heroin.
Heroin (hay Heroine): số thứ tự 9, Danh mục IA, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25 tháng 8 năm 2022 của Chính phủ.”
Tại Bản kết luận giám định số 1595/KL-KTHS ngày 21/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ đ kết luận đối với 10 ống nhựa màu trắng thu giữ tại nhà ở của Lê Thị Thu B:
“Chất bột cục màu trắng chứa trong 10 ống nhựa màu trắng trong suốt, được bịt kín hai đầu, 10 ống nhựa này được đựng trong 01 túi nilon màu hồng trong bì niêm phong gửi đến giám định là ma tuý, có khối lượng là 1,310 gam, loại: Heroin.
Heroin (hay Heroine): số thứ tự 9, Danh mục IA, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25 tháng 8 năm 2022 của Chính phủ”
Tại phiên tòa Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố theo nội dung bản cáo trạng số 03/CTr-VKSYL-HS ngày 23/12/2022 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện YL, tỉnh Phú Thọ truy tố bị cáo Lê Thị Thu B về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị Thu B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS.
Xử phạt Lê Thị Thu B từ 30 tháng đến 36 tháng tù. Thời hạn tù tính từ khi bị bắt tạm giữ là ngày 19/11/2022.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS, khoản 1, điểm a,b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS.
Tịch thu để tiêu hủy gồm:
- 1,025 gam chất bột cục màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định được niêm phong dán kín trong 01 bì giấy có đóng 05 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Phú Thọ và chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong tại các mép dán.
- 01 tờ giấy màu trắng, có chữ viết màu xanh, có kẻ ô; 01 xi lanh nhựa màu trắng, loại 3ml/cc đ qua sử dụng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định được niêm phong dán kín trong 01 bì giấy có đóng 05 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Phú Thọ và chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong tại các mép dán.
Tịch thu sung nộp ngân sách nhà nước số tiền 500.000 đồng thu giữ của B.
Trả lại B số tiền 921.000 đồng và 01 chiếc điện thoại di động nh n hiệu OPPO A15s gắn thẻ sim số 0987569680, 01 căn cước công dân số 025184003843 mang tên Lê Thị Thu B.
Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 BLTTHS, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo vì thuộc hộ nghèo.
Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo: Nhất trí với tội danh mà Viện kiểm sát đ truy tố và các tình tiết giảm nhẹ như Kiểm sát viên đ đề nghị. Bị cáo thuộc hộ nghèo. Bị cáo không có tiền án, tiền sự, có trình độ văn hóa thấp, nhận thức pháp luật hạn chế. Bị cáo có ông nội là người có công với cách mạng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét phạt bị cáo tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhẹ nhất theo khung hình phạt của Viện kiểm sát để bị cáo cải tạo, giáo dục trở thành người công dân tốt cho x hội.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện YL, tỉnh Phú Thọ.
Bị cáo không tranh luận về tội danh cũng như bào chữa về phần hình phạt.
Bị cáo nói lời sau cùng: Mong Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo được cải tạo sớm trở về gia đình và x hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đ được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Hồi 12 giờ 20 phút ngày 19/11/2022, tại khu S, xã L, huyện YL, Lê Thị Thu B đ có hành vi bán trái phép 01 gói ma tuý Heroin cho Đinh Văn V sinh năm 2000 ở khu D, xã T, huyện YL với giá 500.000 đồng (Do V đã sử dụng hết gói ma túy này nên không xác định được khối lượng) và tàng trữ 10 ống nhựa màu trắng trong suốt, được bịt kín hai đầu bên trong chứa chất bột cục màu trắng có khối lượng là 1,310 gam Heroin để bán kiếm lời.
Sự khai nhận này hoàn toàn phù hợp với biên bản kiểm tra người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên bản khám xét nơi ở của bị cáo và lời khai của bị cáo, người làm chứng trong vụ án tại Cơ quan CSĐT và tại phiên tòa. Do vậy có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Lê Thị Thu B cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Viện kiểm sát nhân dân huyện YL, tỉnh Phú Thọ, truy tố bị cáo về tội danh là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 251 Bộ luật hình sự về Tội mua bán trái phép chất ma túy.
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”
Xét tính chất vụ án: Bị cáo phạm tội nghiêm trọng, vì lòng tham nên bị cáo đ bán ma túy kiếm lời. Hành vi bán trái phép chất ma túy (Heroine) của bị cáo đ xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, các chất gây nghiện, loạn thần.....Bởi vì ma túy để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng, gây ra nhiều tác hại cho sức khỏe con người, là nguyên nhân gây ra các tệ nạn x hội khác như trộm cắp, lừa đảo, cướp giật tài sản,...để có tiền mua bán, sử dụng trái phép ma túy. Hành vi đó đ gây mất trật tự an ninh trên địa bàn, bị x hội lên án. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong toàn x hội hiện nay.
Xét nhân thân của bị cáo thấy rằng: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt. Tại Cơ quan CSĐT và phiên tòa bị cáo đ thành khẩn khai báo nhận tội và hối hận đối với hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo có ông nội là Lê Bá Quán được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì năm 1996 nên được hưởng thêm 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Xong cũng cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống chung của x hội một thời gian thích hợp để bị cáo cải tạo sớm trở thành người có ích cho gia đình và x hội sau này.
Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 251 BLHS có quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Theo biên bản xác minh tài sản ngày 15/12/2022 của Cơ quan CSĐT Công an huyện YL và tại phiên tòa đ xác định:
Bị cáo nghề nghiệp làm ruộng, tài sản riêng không có giá trị. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đối với Đinh Văn V là đối tượng nghiện ma túy, mua ma túy của B để sử dụng cho bản thân, nhân thân của V chưa có tiền án, tiền sự về hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt trái phép chất ma túy. Cơ quan cảnh sát điều tra chuyển hồ sơ cho Công an huyện YL ra quyết định số 02/QĐ-CAH (KT-MT) ngày 21/12/2022 xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng là phù hợp theo quy định pháp luật.
Xét về vật chứng gồm:
Đối với 1,025 gam chất bột cục màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định được niêm phong dán kín trong 01 bì giấy có đóng 05 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Phú Thọ và chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong tại các mép dán là vật chứng bị cấm lưu hành, nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 tờ giấy màu trắng, có chữ viết màu xanh, có kẻ ô; 01 xi lanh nhựa màu trắng, loại 3ml/chứng cứ đ qua sử dụng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định được niêm phong dán kín trong 01 bì giấy có đóng 05 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Phú Thọ và chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong tại các mép dán, là vật chứng không có giá trị, nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với số tiền 500.000 đồng là tiền B bán ma túy cho V, đây là tài sản có được khi phạm tội nên cần tịch thu sung nộp ngân sách nhà nước.
Trả lại B số tiền 921.000 đồng và 01 chiếc điện thoại di động nh n hiệu OPPO A15s gắn thẻ sim số 0987569680, 01 căn cước công dân số 025184003843 mang tên Lê Thị Thu B là tài sản của bị cáo không liên quan đến tội phạm.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Quá trình tiến hành các hoạt động tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện YL, Điều tra viên; Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Phú Thọ; Viện kiểm sát nhân dân huyện YL, Kiểm sát viên trong quá trình kiểm sát điều tra, truy tố, đ thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đ thực hiện đều hợp pháp.
Đề nghị của Kiểm sát viên về áp dụng điều luật, hình phạt, cũng như xử lý vật chứng là có căn cứ và phù hợp pháp luật nên cần xem xét chấp nhận.
Đề nghị của người bào chữa nhất trí về đề nghị của Viện kiểm sát về điều luật, hình phạt, xử lý vật chứng là có căn cứ nên cần xem xét chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị Thu B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Phạt: Lê Thị Thu B 27 (Hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ là ngày 19/11/2022.
Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Căn cứ khoản 1 Điều 47 BLHS, khoản 1, điểm a,b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106, Điều 331, Điều 333 của BLTTHS.
Tịch thu để tiêu hủy gồm:
- 1,025 gam chất bột cục màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định được niêm phong dán kín trong 01 bì giấy có đóng 05 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Phú Thọ và chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong tại các mép dán.
- 01 tờ giấy màu trắng, có chữ viết màu xanh, có kẻ ô; 01 xi lanh nhựa màu trắng, loại 3ml/cc đ qua sử dụng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định được niêm phong dán kín trong 01 bì giấy có đóng 05 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Phú Thọ và chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong tại các mép dán.
Tịch thu sung nộp ngân sách nhà nước số tiền 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) thu giữ của B.
Trả lại B số tiền 921.000đ (Chín trăm hai mươi mốt nghìn đồng) và 01 chiếc điện thoại di động nh n hiệu OPPO A15s gắn thẻ sim số 0987569680, 01 căn cước công dân số 025184003843 mang tên Lê Thị Thu B.
Vật chứng đang được tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện YL, tỉnh Phú Thọ, theo biên bản giao nhận ngày 28/12/2022.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23, điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lê Thị Thu B vì thuộc hộ nghèo.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có mặt được quyền kháng cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết nơi cư trú để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - VKSND huyện + tỉnh; - Cơ quan CSĐT CA huyện; - THAHS; Cơ quan THAHS CA huyện; - Chi cục THADS; - Trại tạm giam CA tỉnh; - Bị cáo; Người TGTT khác; - Lưu HS,VP (10b). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Tuấn Anh |