- Tranh chấp gì? án hình sự — "Chau S - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Chau S phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2023/HS-ST Ngày 05 tháng 01 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU- TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
+ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Bá Diễn.
+ Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Bình và ông Lê Văn Mỳ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Quyết Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Cao Kỷ Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 134/2022/TLST-HS ngày 13 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 136/2022/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 12 năm 2022, đối với bị cáo:
Chau S, sinh năm 1979; nơi sinh tại An Giang;
Nơi thường trú: Ấp B, xã A, huyện T, tỉnh An Giang.
Nghề nghiệp: Công nhân;
Trình độ học vấn: 0/12;
Dân tộc: Khơme;
Giới tính: Nam;
Tôn giáo: không;
Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông Chau D, sinh năm 1950 và bà Neàng D1, sinh năm 1952;
Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất;
Sống chung như vợ chồng với Nguyễn Thị H, sinh năm 1975 đến năm 2012 thì không chung sống với nhau nữa, bị cáo có 01 con sinh năm 2000.
Tiền án, tiền sự: không;
Bị bắt từ ngày 02 tháng 10 năm 2022, hiện đang tạm giam tại Cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam Công an huyện Vĩnh Cửu;
- Bị hại: Anh Chau H1, sinh năm 1984.
Địa chỉ: Ấp 1, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Anh Đới Văn H2, sinh năm 1972.
Địa chỉ: 14E/4 khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
(Bị cáo có mặt tham gia phiên tòa, những người tham gia tố tụng khác vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoản 09 giờ ngày 16/01/2016, Chau S đến phòng trọ của Chau H1 tại ấp 1, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai hỏi mượn xe mô tô đi công việc và hẹn 17 giờ chiều sẽ trả xe. Anh H1 đồng ý giao xe mô tô hiệu Wave RSX màu đỏ đen, biển số 67F1-XXXXX cho Chau S, (trong cốp xe có giấy chứng nhận đăng ký xe). Sau khi nhận xe, Chau S nảy sinh ý định cầm xe mô tô lấy tiền trả nợ nên Chau S mang xe mô tô biển số 67F1- XXXXX đến tiệm cầm đồ Nguyễn H2 tại 14E/4 khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương do anh Đới Văn H2 làm chủ cầm với số tiền 8.000.000 đồng. Đến 18 giờ cùng ngày, Chau S điện thoại báo tin cho Chau H1 biết là Chau S đã đem xe đi cầm và hứa một tuần sau chuộc xe về trả. Đến ngày 21/01/2016, không có tiền chuộc xe nên Chau S đến gặp Chau H1 giao lại giấy cầm xe mô tô cho Chau H1 và bỏ trốn đi làm thuê ở nơi khác.
Ngày 24/5/2016, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu thu giữ xe mô tô biển số 67F1-XXXXX do anh Đới Văn H2 giao nộp. Tại Biên bản và kết luận định giá tài sản số 20/BB-ĐGTS ngày 07/4/2016 của Hội đồng định giá tài sản Tố tụng hình sự huyện Vĩnh Cửu kết luận chiếc xe mô tô biển số 67F1-XXXXX trị giá 11.200.000 đồng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra lệnh bắt Chau S để xử lý nhưng do Chau S bỏ trốn nên đã ra quyết định truy nã đối với Chau S. Đến ngày 02/10/2022, Chau S bị Công an phường T, thị xã T, tỉnh Bình Dương bắt giữ và chuyển giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai giải quyết theo thẩm quyền.
Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu đã trả lại xe cho anh Chau H1. Gia đình Chau S đã trả lại cho anh H2 số tiền cầm xe là 8.000.000đ. Cả anh H1 và anh H2 đều không có yêu cầu gì về phần bồi thường dân sự nữa.
Tại bản Cáo trạng số: 03/CT-VKSVC ngày 14 tháng 12 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu để xét xử Chau Sóc về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị xử phạt bị cáo Chau S từ 10 đến 12 tháng tù. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử tuyên buộc bị cáo phải chịu án phí theo luật định.
Ý kiến của bị cáo: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, đồng ý với lời luận tội của Kiểm sát viên và không có ý kiến tranh luận gì. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về thủ tục tố tụng: Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, người tham gia tố tụng không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện. Hành vi, quyết định tố tụng, người tiến hành tố tụng đều đảm bảo đúng pháp luật.
. Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ cơ sở kết luận: Ngày 16/01/2016, tại ấp 1, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai, Chau S đã mượn xe mô tô hiệu Wave RSX biển số 67F1-XXXXX của anh Chau H1 sau đó đem cầm cố lấy số tiền 8.000.000 đồng rồi bỏ trốn khỏi địa phương. Trị giá xe mô tô biển số 67F1-XXXXX là 11.200.000 đồng. Như vậy, bị cáo Chau S đã phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 140 Bộ luật Hình sự năm 1999. Tuy nhiên tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 4 Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định khung hình phạt tù từ 12 đến 20 năm là thấp hơn khung hình phạt Bộ luật hình sự năm 1999. Căn cứ Nghị quyết 41/2017 ngày 20/6/2017 của Quốc hội áp dụng nguyên tắc có lợi cho bị cáo thì hành vi của Chau S đã phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác nên cần xử phạt bị cáo một mức án đủ nghiêm để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành những người công dân tốt, sống tôn trọng pháp luật, đồng thời còn nhằm răn đe và phòng ngừa chung.
[3.] Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy:
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải; tài sản mà bị cáo chiếm đoạt đã kịp thời thu hồi, trả cho bị hại, đồng thời gia đình bị cáo đã tích cực giao nộp tiền để trả cho anh H2 nên Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[4.] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Châu H1 đã nhận lại xe mô tô, không yêu cầu gì khác về dân sự. Gia đình bị cáo Chau S đã trả lại số tiền 8.000.000 đồng cầm xe cho anh H2, anh H2 không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
. Đối với anh Đới Văn H2 khi cầm xe mô tô biển số 67F1-XXXXX, không biết nguồn gốc tài sản do Chau S phạm tội mà có nên không phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
. Về án phí: Do bị cáo phạm tội nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
[7.] Về việc xét xử vắng mặt và quyền kháng cáo: Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng trước đó, Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho họ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập tới tham gia phiên tòa. Người có quyền lợi, nghĩa vụ quan đã có đơn xin được vắng mặt tại phiên tòa. Đồng thời, việc vắng mặt của những người này không trở ngại cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và quyền kháng cáo của những người này được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
. Quan điểm và đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử. Tuy nhiên về hình phạt, xét thấy bị cáo là người dân tộc thiểu số, trình độ học vấn thấp, bị cáo đang phải nuôi mẹ già và có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án thấp hơn đề nghị của Viện kiểm sát.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Chau S phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 175; các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Chau S 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02 tháng 10 năm 2022.
2. Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Chau S phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
3. Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Bị cáo; Bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - VKSND huyện Vĩnh Cửu, Đồng Nai; - Chi cục THADS huyện Vĩnh Cửu, ĐN; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - Cơ quan điều tra, CA huyện Vĩnh Cửu; - Cơ quan THA hình sự Công an huyện Vĩnh Cửu, Đồng Nai; - Cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam Công an huyện Vĩnh Cửu; - UBND xã nơi bị cáo cư trú; - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai; - TAND tỉnh Đồng Nai; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Bá Diễn |