- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trương Chế L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2023/HS-ST Ngày: 04/01/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA V NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THUYỆN THỚI LAI, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Giúp Đở
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Thanh Dũng
Ông Nguyễn Văn Đen
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Tiên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Lai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Khang – Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 38/2022/TLST-HS ngày 19 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2022/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trương Chế L, sinh năm 1992, tại Cần Thơ;
Tên gọi khác: Tý.
Nơi cư trú: ấp Đông H, xã Đông T, huyện L, thành phố C; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: V Nam; Con ông Trương Công T(sống) và bà Trần Mỹ Ngọc T (sống); Tiền án: Không; Tiền sự: 01 lần. Ngày 07/10/2022, bị Công an xã Đông T, huyện L xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Bị cáo bị tạm giữ, tam giam từ ngày 03/11/2022, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 02/11/2022, L đang ở nhà tại ấp Đông H, xã Đông T, huyện L, thành phố C liên lạc qua điện thoại người thanh niên tên V (không rõ tên và địa chỉ) để hỏi mua 600.000 đồng ma túy. V đồng ý và hẹn L đến bến sông dưới dầm cầu KH9 thuộc xã Trường L, huyện CA, tỉnh H. Sau khi liên hệ với V xong, L điều khiển vỏ lãi có gắn động cơ máy của gia đình đến địa điểm hẹn. Tại đây, L gặp V đứng đợi sẵn, L đưa cho V số tiền 600.000 đồng để mua ma túy, V lấy tiền xong ném gói thuốc lá JET bên trong có chứa gói ma túy xuống vỏ lãi cho L, L kiểm tra có gói ma túy rồi điều khiển vỏ lãi mang gói ma túy vừa mua về nhà. Đến khoảng 23 giờ L về đến nhà, kiểm tra đồ đạc trên vỏ lãi thì phát hiện có một gói ma túy khác của L mua của V khoảng 04 ngày trước để sử dụng nhưng đã để quên. L lấy gói ma túy này cùng gói ma túy vừa mua để trong hộp giấy có ghi chữ OPPO A92 mang lên nhà cất giữ, mục đích để sử dụng từ từ. Do mua ma túy về khuya, L thấy mệt, lên võng nằm nghỉ, dự định một lúc sau sẽ sử dụng ma túy nên để hộp giấy có chứa hai gói ma túy trên nền gạch dưới võng nằm trong nhà của L và ngủ quên cho đến sáng ngày hôm sau thì bị lực lượng công an phát hiện, thu giữ niêm phong vật chứng, các đồ vật khác có liên quan và đưa về trụ sở làm việc. Tang vật thu giữ gồm:
- 01 (một) gói nilon không màu, nẹp miệng, viền ngang màu đỏ bên trong chứa tinh thể không màu (nghi là ma tuý) và 01 (một) gói nilon không màu hàn kín bên trong chứa tinh thể không màu (nghi là ma tuý) được phát hiện trong hộp giấy màu xanh có ghi chữ OPPO A92.
- 01 (một) hộp giấy màu xanh có ghi chữ OPPO A92;
- 01 (một) kéo kim loại;
- 01 (một) quẹt gas màu vàng;
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đỏ, số IMEI1: 860146041333451, số IMEI2: 860146041333444, gắn thẻ sim số: 0333777625 đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng.
Tại Kết luận giám định số: 364/KL-KTHS ngày 09 tháng 11 năm 2022 của Phòng Kỹ Thuật Hình Sự - Công an thành phố Cần Thơ kết luận:
- Gói nilon không màu, nẹp miệng, viền đỏ chứa tinh thể không màu ký hiệu M1 gửi giám định, là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 3,7877 gam;
- Gói nilon không màu, hàn kín, chứa tinh thể không màu hiệu M2 gửi giám định, là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,4705 gam.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và mục đích tàng trữ trái phép chất ma túy là để sử dụng.
Đối với người tên V bán ma túy, do bị cáo khai không đầy đủ về thông tin, đặc điểm nhận dạng, nên chưa làm việc được, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Thới Lai tiếp tục làm rõ xử lý sau.
Tại bản cáo trạng số 02/CT-VKS-TL ngày 19/12/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ đã truy tố bị cáo Trương Chế L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự 2015.
Tại phiên tòa:
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội giống như hành vi mà Viện kiểm sát đã truy tố. Đồng thời các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Trương Chế L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự và mức án đề nghị: 03 năm 06 tháng đến 04 năm 06 tháng tù.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 của Bộ luật hình sự.
Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong số 364 ngày 09/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Cần Thơ chứa ma túy còn lại sau giám định, 01 hộp giấy màu xanh có ghi chữ OPPO A92, 01 kéo kim loại, 01 quẹt gas màu vàng và sim số 0333777625.
Đề nghị tịch thu sung công 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu đỏ, imei 1: 860146041333451, imei 2: 86014601333444.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận vào khoảng 19 giờ ngày 02/11/2022, bị cáo sử dụng điện thoại OPPO liên hệ cho người thanh niên tên V để mua ma túy với giá 600.000đồng về sử dụng. Sau khi liên hệ bị cáo dùng vỏ lãi có gắn động cơ máy của gia đình đến tại bến sông dưới dầm cầu KH9 (thuộc xã Trường L, huyện CA, tỉnh H) để mua ma túy. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, bị cáo về đến nhà ngủ đến khoảng 07 giờ 30 sáng hôm sau thì bị lực lượng Công an phát hiện thu giữ tang vật và đưa bị cáo về trụ sở làm việc. Kết quả giám định: Tinh thể không màu đựng trong 02 gói nilon là ma túy, loại Methamphetamin, có tổng khối lượng 4,2582gam.
Lời thừa nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với những chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ và phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra nên hành vi của các bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Lai truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ.
Hành vi của bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, bị cáo biết rõ ma túy là chất gây nghiện được Nhà nước độc quyền quản lý về việc cất giữ, vận chuyển cũng như mua bán các loại chất này. Tuy nhiên, do bản thân bị cáo là đối tượng nghiện và để thỏa mãn cơn nghiện nên bị cáo đã có hành vi mua ma túy về để tàng trữ sử dụng. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất gây nghiện của Nhà nước mà còn làm cho tình hình tệ nạn xã hội ngày càng phức tạp hơn. Vì vậy, cần phải có mức hình phạt thật nghiêm khắc và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để răn đe bị cáo đồng thời phòng ngừa chung trong xã hội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên toà bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn hối cải nên khi lượng hình Hội đồng xét xử có xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Về vật chứng: 01 gói niêm phong số 364/KL-KTHS bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định là chất cấm lưu hành và 01 hộp giấy màu xanh có ghi chữ OPPO A92, 01 kéo kim loại, 01 quẹt gas màu vàng và sim số 0333777625 không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy; Điện thoại di động hiệu OPPO màu đỏ bị cáo dùng làm phương tiện liên lạc mua ma túy nên tịch thu sung công.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo quy định.
Xét đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Trương Chế L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự.
- Xử phạt: Bị cáo Trương Chế L 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/11/2022.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong số 364/KL-KTHS bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định, 01 hộp giấy màu xanh có ghi chữ OPPO A92, 01 kéo kim loại, 01 quẹt gas màu vàng và sim số 0333777625.
- Tịch thu sung công 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu đỏ, imei 1: 860146041333451, imei 2: 86014601333444 đã qua sử dụng.
3. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.
Bị cáo phải chịu 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP. Cần Thơ; - VKSND H. Thới Lai; - THADS H. Thới Lai; - Công an H. Thới Lai; - Bị cáo; - Bị hại; - Người tham gia tố tụng khác; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Giúp Đở |