vanban.org

Bản án 01/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 09/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Đỗ Văn T 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 (ba) năm 04 (bố n) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 09/01/2023).

Giao bị cáo Đỗ Văn T cho Ủy ban nhân dân xã Thái Đào, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật T hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo ph… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Văn Thi - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Đỗ Văn T 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 (ba) năm 04 (bố n) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 09/01/2023).
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẠNG GIANG
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2023/HS-ST
Ngày 09-01-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thiêm

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Văn La.

2. Bà Ngô Thị Mai

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyệ n LG, tỉnh BG.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Mạnh Sỹ - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 117/2022/TLST-HS ngày 01 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 139/2022/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:

Đỗ Văn T, sinh năm 1970. Tên gọi khác: không có.

Nơi cư trú : Thôn Mỹ, xã Thái Đào, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: tự do; trình độ văn hóa: 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quố c tị ch: Việ t Nam ; con ông Đỗ Văn Si, sinh năm 1948 và bà Nguyễn Thị Nhung, sinh năm 1948 (đã chết); có vợ là Giáp Thị Vui, sinh năm 1968 và 02 con; tiề n á n, tiề n sự : không; nhân thân: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, hiện tại ngoại - (Có mặt).

- Bị hại: Chị Vi Thị N, sinh năm 1990 (đã chết).

Địa chỉ: Thôn HS, xã BS, huyện L, tỉnh B.

- Người đại diện hợp pháp của bị hại:

+ Ông Vi Văn Th, sinh năm 1964 - (Có mặ t).

+ Bà Lường Thị Á, sinh năm 1965 - (Có mặt).

+ Anh Bùi Văn Tr, sinh năm 1985 - (Có mặt).

Cùng địa chỉ: Thôn HS, xã BS, huyện L, tỉnh B.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Ông Vi Văn Th, sinh năm 1964 - (Có mặt).

Địa chỉ: Thôn HS, xã BS, huyện L, tỉnh B.

+ Bà Vũ Thị D, sinh năm 1967 - (Có mặt).

Đị a chỉ : Thôn T, xã L, huyệ n L, tỉnh BG.

* Người đại diện theo ủy quyền của ông Vi Văn Thìn và bà Lường Thị Áy: Anh Bùi Văn Tr, sinh năm 1985. Địa chỉ: Thôn HS, xã BS, huyện L, tỉnh B (Có mặt).

* Người làm chứng: Anh Vi Văn Đ, sinh năm 2001. Địa chỉ: Thôn HS, xã BS, huyện L, tỉnh B - (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 8/2021, do cần phương tiện để chở nông sả n và phân bó n cho gia đì nh nên Đỗ Văn T, sinh năm 1970, trú tại: Thôn M, xã TĐ, huyệ n LG, tỉnh BG đã mua mộ t chiế c xe ba bá nh tự chế , màu xanh không có biển kiểm soát (xe ba bánh tự chế) của một người đàn ông không rõ h ọ tên và địa chỉ ở khu công nghiệ p Yên Phong , tỉnh Bắc Ninh . Buổi chiề u ngà y 04/10/2022, T điều khiển xe ba bánh tự chế từ xã Phương Sơn, huyện Lục Nam về nhà, đi trên Quố c lộ 31. Khoảng 17 giờ 40 phút cùng ngày, khi đế n Km 10 thuộ c đị a phậ n thôn Đ Giáp, xã Đ Lâm, huyệ n LG thấy đường vắng, ít phương tiện đi lại nên T điều khiển xe lấn qua vạch kẻ ở giữa đường sang phần đường bên trái theo chiều đi thì mặ t trướ c thà nh thù ng xe bên trá i xe do T điều khiển va trạm với phần ốp nhựa đầu xe, tay phanh, đèn tín hiệu trước, cách yếm và để chân sau bên trái của xe mô tô biển kiểm soát 98E1 - 805.09 do chị Vi Thị N, sinh năm 1990, trú tại: Thôn Hiệ p Sơn , xã Biên Sơn , huyệ n Lụ c Ngạ n , tỉnh BG điề u khiển lưu thông hướng ngược lại làm chị Ngọ và xe của chị Ngọ ngã, đổ xuống đường. Sau khi tai nạn xảy ra, xe mô tô bị hư hỏng còn chị Ngọ bị thương nặng và bị chết trên đường đưa đi cấp cứu.

Cùng ngày 04/10/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lạng Giang phối hợp với các cơ quan liên quan tiến hành xét nghiệm chất ma túy và kiểm tra nồ ng độ cồ n đối với Đỗ Văn T. Kết quả xác định nồ ng độ cồ n trong hơi thở là 0,000mg/l và âm tính với các chất ma túy (BL: 77-78).

* Kết quả khám nghiệm hiện trường (BL: 51 - 53):

Hiệ n Tr nơi xả y ra vụ tai nạ n giao thông đườ ng bộ tạ i Km 10, Quố c lộ 31, thuộ c đị a phậ n thôn Đ Giáp, xã Đ Lâm, huyệ n LG, tỉnh BG. Mặt đường đượ c trải áp phan nhựa phẳng , thẳ ng, mặ t đườ ng rộ ng 6m, giữ a đườ ng có vạ ch sơn màu vàng ngắt quãng đều nhau chia mặt đường thành hai phần đường cho hai dòng phương tiện ngược chiều nhau , lề đườ ng hai bên rộ ng 1,5m, mỗ i ph ần đườ ng rộ ng 3m. Bên phả i , bên trá i hiệ n Tr tính theo chiều đi của đường theo hướ ng Quố c lộ 1A đi Lụ c Nam (Tây - Đông). Lấ y mé p đườ ng phả i là m chuẩ n . Lấ y tâm chân cộ t mố c Km 10 trên lề đườ ng phả i cá ch mé p đườ ng phả i về phía Bắ c 1m là m mố c. Phía Bắc hiện Tr cách 75m là công ty TNHH Hoà n Hả o . Phía Nam hiệ n Tr tiế p giá p cá nh đồ ng . Phía Đông hiện Tr là hướng đi huy ện Lụ c Nam. Phía Tây hiện Tr là hướng đi Quốc lộ 1A.

Trên hiệ n Tr phát hiện các phương tiện và dấu vết sau:

Xe mô tô biển kiểm soát 98E1-805.09 đổ nghiêng trên lề đườ ng phả i đầ u xe hướ ng Đông Nam . Tâm trụ c bá nh trướ c cá ch mé p đườ ng phả i về phí a Bắ c 55cm, tâm trụ c bá nh sau cá ch mé p đườ n g phả i về phí a Bắ c 35cm, cách mốc về phía Tây Nam 16,15m. Ký hiệu là (1).

Xe ba bá nh tự chế đỗ tự nhiên trên mặ t đườ ng đầ u xe hướ ng Tây

. Tâm trục bánh trước cách mép đường phải 5,4m; tâm trụ c bá nh sau bên trá i cá ch mé p đườ ng phải 4,65m, cách điểm mốc về phía Đông Nam 14m. (Ký hiệu là 2).

Dấ u vế t cà y xướ c mặ t đườ ng và lề đườ ng phả i nổ i mà u trắ ng đụ c chiề u

hướ ng Tây Bắ c - Đông Nam, trên diệ n kí ch thướ c (505 x 40)cm, rộ ng vế t đơn 02cm, đầ u vế t cá ch mé p đườ ng phả i 10cm, cuố i vế t kế t thú c tạ i đầ u để chân trướ c bên phả i 10cm, cuố i vế t kế t thú c tạ i đầ u để chân trướ c bên phả i xe (1). (Ký hiệu là 3).

Dấ u vế t nướ c dạ ng phun bắ n chiề u hướ ng Tây - Đông trên mặ t đườ ng trên diệ n (780 x 160)cm, tâm đầ u vế t cá ch mé p đườ ng phả i 1,1m, tâm cuố i vế t cá ch mép đường phải 60cm, cách tâm trục bánh sau xe (1) về phí a Đông Nam 2,9m. (Ký hiệu là 4).

Dấ u vế t mả nh vỡ rả i rá c trên mặ t đườ ng chiề u hướ ng Tây

- Đông trên diệ n kí ch thướ c (1200 x 80)cm, tâm đầ u vế t cá ch mé p đườ ng phả i 45cm, cách tâm đầ u vế t (4) về phí a Bắ c 62cm, cuố i vế t kế t thú c tạ i đầ u xe (1). (Ký hiệu là 5). Ngoài ra không phát hiện dấu vết nào khác.

Vật chứng tạm giữ gồm: 01 xe mô tô biển kiểm soát 98F1-805.09, 01 giấy phép lái xe của chị Vi Thị Ngọ và 01 xe ba bánh tự chế màu xanh, không biển kiểm soát (BL 107-108, 112).

* Kết quả khám nghiệm xe ba bá nh tự chế mà u xanh , không biể n kiể m soát (BL 94-95):

Mặ t ngoà i khung kim loại phía trước phanh chân bên trái bị chùn cong

theo chiề u hướ ng từ trên xuố ng dướ i , mặ t trướ c cạ nh ngoà i khung kim loạ i bên trái có vết mài sát sơn kim loại chiều hướng từ trước về sau , bám dính vụn nhựa màu đen, trên diệ n kí ch thướ c (5 x 1,3)cm. Tâm vế t cá ch đấ t 42cm. Góc dưới bên trá i khung kim loạ i củ a hệ thố ng sắ t si có vế t mà i sá t sơn , kim loạ i chiề u hướ ng từ trướ c ra sau, kích thước (1,5 x 0,5)cm. Tâm vế t cá ch đấ t 89cm.

Mặ t trướ c thà nh thùng bên trái thùng xe có dấu vết cày xước , cắ t gọ t kim loại, trên diệ n kí ch thướ c (31,5 x 2,5)cm. Điể m thấ p nhấ t cá ch đấ t 72,5cm, điể m cao nhấ t cá ch đấ t 104cm. Trên vù ng cà y xướ c có bá m dí nh vậ t chấ t mà u đen , trên diệ n kí ch thướ c (3,5 x 1)cm. Tâm vế t cá ch đấ t 100cm. Chiề u hướ ng từ phả i sang trá i, từ trướ c về sau.

Mặ t trướ c khung kim loạ i sà n thù ng xe bên trá i có vế t mà i sá t sơn kim

loại bề mặt bám vật chất màu đen dạng sơn , chiề u hướ ng từ phải qua trái , trên diệ n kí ch thướ c (6 x 3)cm. Tâm vế t cá ch đấ t 72,5cm, cách cạnh ngoài bên trái thùng xe 6,5cm.

Mặ t bên dướ i cạ nh trướ c thà nh thù ng có dấ u vế t mà i sá t sơn kim loạ i, bám dính vật chất màu đen, kích thước (7 x 2,5)cm. Tâm vế t cá ch đấ t 71cm.

Mặ t dướ i khung kim loạ i thà nh thù ng bên trá i bá m dí nh vậ t chấ t mà u nâu đỏ nghi tổ chứ c cơ thể ngườ i , trên diệ n kí ch thướ c (5 x 4)cm. Tâm vế t cá ch đấ t 71cm.

Mặ t ngoà i thà nh thù ng bên trá i bá m dí nh rả i rá c dấ u vế t mà u nâu đỏ nghi là máu dạng phun bắn, dạng quệt, trên diệ n kí ch thướ c (180 x 38)cm. Điể m thấ p nhấ t cá ch đấ t 73cm, điể m cao nhấ t cá ch đấ t 110cm, điể m đầ u tiên cá ch cạ nh trướ c thà nh thù ng bên trá i 10cm, điể m cuố i cá ch thà nh thù ng bên trá i phí a sau 43cm.

Mặ t ngoà i bên trá i ố p kim loạ i bả o vệ ắc qui bên trá i sườ n xe , phía dưới khung kim loạ i phí a trướ c sà n thù ng xe bá m dí nh vậ t chấ t mà u nâu đỏ và vậ t chấ t nghi tổ chứ c cơ thể ngườ i dạ ng phun bắ n, kích thước (33 x 22)cm.

Mặ t ngoà i khung kim loạ i phí a trên thà nh thù ng bên trá i bá m dí nh rả i rá c dấ u vế t mà u nâu đỏ nghi má u dạ ng trượ t và dấ u vế t nghi tổ chứ c cơ thể ngườ i chiề u hướ ng từ trướ c ra sau, trên diệ n kí ch thướ c (160 x 4)cm. Tâm vế t cá ch đấ t 116cm.

Mặ t ngoà i má lố p , phía dưới trục bánh sau bên trái có vết mài sát cao su , trên diệ n kí ch thướ c (8,5 x 5,5)cm. Tâm vế t cá ch chân van 35cm.

Trong thù ng xe rả i rá c nhiề u mả nh vỡ gương , nhự a mà u đen , ốp nhựa gương chiế u hậ u bên trá i , trên diệ n kí ch thướ c (130 x 130)cm. Ngoài ra không phát hiện dấu vết nào khác.

* Kết quả khám xe mô tô biển kiểm soát 98E1 - 805.09 (BL: 79-80):

Bung bậ t và khuyế t toà n bộ cánh yếm bên trái.

Vỡ khuyế t ố p nhự a cụ m đè n tí n hiệ u bên trá i trên diệ n kí ch thướ c (20 x 10)cm.

Ốp nhựa phía trên tay phanh bên trái có vết gãy vỡ mài sát nhựa trên diện kích thước (11 x 4)cm, in hì nh cạ nh dạ ng vuông. Tâm vết cách đất 108cm, chiề u hướ ng từ trướ c ra sau.

Mặ t ngoà i 1/3 trong tay phanh bên trá i có vế t mà i sá t kim loạ i chiề u

hướ ng từ phả i qua trá i kí ch thướ c (5 x 1)cm. Tâm vế t cá ch đấ t 104,5cm.

Mặ t trướ c đầ u tay nắ m bên trá i có dấ u vế t mà i sá t nhự a, cao su kí ch thướ c (2x 1,5)cm. Tâm vế t cá ch đấ t 104cm.

Mặ t ngoà i tay phanh bên trá i bá m dí nh chấ t mà u nâu đỏ nghi là má u , đầ u tay phanh có dấ u vế t mà i sá t kim loạ i trên diệ n kí ch thướ c (2,5 x 0,6)cm. Tâm vế t cách đất 104cm.

Vỡ khuyế t gương chiế u hậ u bên trá i.

Bung bậ t gã y vỡ ố p nhự a bên trá i phí a dướ i yên xe . Tại điểm vỡ có lõm nhự a, cách đất 74,5cm. Mặ t trên 1/2 sau bá m dí nh vậ t chấ t nghi tổ chứ c cơ thể ngườ i trên diệ n kí ch thướ c (47 x 8)cm, 1/3 dướ i có dấ u vế t mà i sá t nhự a chiề u hướ ng từ trướ c ra sau trên diệ n kí ch thướ c (20 x 15)cm.

Cạnh dưới mặt trước, mặ t dướ i để chân sau bên trá i có dấ u vế t cắ t gọ t mà i trượ t kim loạ i chiề u hướ ng từ trướ c về sau bá m dí nh vậ t chấ t mà u xanh dạ ng sơn, trên diệ n kí ch thướ c (10 x 0,5)cm. Tâm vế t cá ch đấ t 42,5cm, điể m cao nhấ t cách đất 49,5cm.

Vỡ khuyế t ố p nhự a bầ u lọ c gió lộ phầ n nhự a phí a trong bề mặ t bá m dí nh vậ t chấ t mà u x anh dạ ng sơn , chiề u hướ ng từ trướ c về sau , trên diệ n kí ch thướ c (15 x 2)cm. Tâm vế t cá ch đấ t 46cm.

Khám cánh yếm bên trái bị gãy khuyết khỏi xe tại vị trí đầu phía trên có vế t mà i sá t sơn nhự a chiề u hướ ng từ trướ c về sau bề mặ t bá m dí nh vậ t chấ t mà u xanh dạ ng sơn.

Tay phanh bên phả i có vế t mà i sá t kim loạ i bề mặ t bá m dí nh bụ i đấ t , kích thướ c (8 x 2)cm.

Ốp nhựa phía dưới chân gương bên phải và gương chiếu hậu bên phải có vế t mà i sá t nhự a bề mặ t bá m dí nh bụ i đấ t, kích thước (45 x 15)cm.

Mặ t ngoà i cá nh yế m bên phả i có vế t mà i sá t sơn nhự a bề mặ t bá m dí nh

bụi đất, kích thước (70 x 18)cm.

Mặ t ngoà i ố p nhự a ố ng xả có vế t mà i sá t nhự a bề mặ t bá m dí nh bụ i đấ t, kích thước (40 x 10)cm. Ngoài ra không phát hiện dấu vết nào khác.

* Kết quả khám nghiệm tử T nạn nhân Vi Thị Ngọ (BL 32-34):

Trên cơ thể có cá c tổ n thương chính như : Vùng trán có vết chợ t da; Ngự c trái có vết chợt da ; Gãy xương sườ n số 3,4,5,6,7 cung trướ c bên trá i ; Chọc hút khoang mà ng phổ i trá i ra nhiề u má u không đông mà u đỏ

; Chọc hút khoang màng phổi phải ra nhiều máu không đông màu đỏ ; Bộ c và mở rộ ng vế t thương đù i trá i thấ y dậ p ná t tổ chứ c dướ i da và cơ tứ đầ u đù i trá i, vế t thương nham nhở , tụ máu không xác định được tổn thương động mạch và tĩnh mạch đùi trái . Vỡ nát xương đùi trái.

Tại Bản kết luận giám định pháp y tử T số: 4457/KL-KTHS ngày 31/10/2022 của Trung tâm pháp y- Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang kết luận: Nguyên nhân chết của chị Vi Thị Ngọ do đa chấ n thương do tai nạ n giao thông . Cơ chế hì nh thà nh thương tí ch: Các thương tích do va chạm với vật tày gây nên.

Tại bản kết luận giám định số 1994/KL- KTHS ngày 02/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Giang kết luận (BL: 39-40):

“1. Dấ u vế t bong tró c sơn , mài sát kim loại , bám dính chất màu đen tại mặ t trướ c bên trá i thà nh thù ng xe ba bá nh tự chế , có chiều hướng từ trướ c về sau (ảnh số 11, 12, 16 bản ảnh khám phương tiện ) phù hợp với dấu vết gãy vỡ , mài sát sơn, nhự a, kim loạ i tạ i bên trá i củ a xe mô tô bi ển kiểm soát 98E1 - 805.09 gồ m: ốp nhựa đầu xe , tay phanh, đè n tí n hiệ u trướ c , cánh yếm, có chiều hướng từ trướ c về sau (ảnh số 8, 13 bản ảnh khám phương tiện ); Dấ u vế t chù n cong , mài sát sơn, kim loạ i tạ i khung kim loạ i phí a dướ i chân phanh bên trá i củ a xe ba bánh tự chế, có chiều hướng từ trước v ề sau (ảnh số 5, 9 bản ảnh khám phương tiệ n) phù hợp với dấu vết gãy vỡ , mài sát sơn nhựa, kim loạ i, bám dính vật chất màu xanh (dạng sơn) tại để chân sau bên trái và ốp nhựa bầu lọc gió của xe mô tô BKS 98E1 - 805.09, có chiề u hướ ng từ trướ c về sau (ảnh số 26, 29 bản ảnh khám phương tiện).

2. Vị trí va chạm giữa xe ba bánh tự chế với xe mô tô biển kiểm soát 98E1

- 805.09 trên mặ t đườ ng tạ i trướ c điể m đầ u dấ u vế t chấ t lỏ ng ký hiệ u số 4 và dấu vế t mả nh vỡ nhự a ký hiệ u số 5, thuộ c chiề u chuyể n độ ng bên phả i theo hướ ng Quố c lộ 1A đi Lụ c Nam.

3. Không xá c đị nh đượ c tố c độ củ a hai phương tiệ n tạ i thờ i điể m xả y ra tai nạn qua các dấu vết cơ học.”

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 100/KL-HĐĐGTS ngày 15/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Lạng Giang, kết luận: Xe mô tô BKS 98E1-805.09 bị hư hỏng Tệt hại là 2.550.000 đồng (BL: 47).

Tại biên bản làm việc ngày 12/11/2022, Đội Cảnh sát giao thông Công an huyện Lạng Giang xác định: Xe ba bánh không biển kiểm soát, số máy E3CE-14292 là xe tự chế, không được tham gia giao thông và không nằm trong hệ thống xe cơ giới (BL: 131).

Quá trình điều tra, bị cáo T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại bản cáo trạng số 117/CT-VKS ngày 30 tháng 11 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Đỗ Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay:

- Bị cáo Đỗ Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu. Bị cáo xác định các lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra là hoàn toàn tự nguyện, bị cáo giữ nguyên những lời khai này. Bị cáo đã tự nguyện bồi thường và khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại số tiền 230.000.000đ, việc bồi thường là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc gì.

- Anh Bùi Văn Trường là người Đ diệ n hợ p phá p củ a bị hạ i , là người Đ diệ n theo uỷ quyề n củ a ông Vi Văn Th và bà Lường Thị Áy trình bày : Anh là chồ ng củ a chị Vi Thị N, ông Th, bà Áy là bố mẹ đẻ của chị Vi Thị N. Sự việc tai nạn như thế nào thì anh không biết, sau khi tai nạn xảy ra chị Vi Thị N chế t, gia đình đã lo mai táng xong. Bị cáo T đã tự nguyện bồi thường cho gia đình anh số tiền 230.000.000đ. Nay gia đì nh anh không yêu c ầu bị cáo phải bồi thường gì thêm. Anh đã đượ c Cơ quan điề u tra trả l ại xe mô tô bi ển kiểm soát 98E1-805.09 và 01 giấy phép lái xe của chị Vi Thị Ngọ. Trong quá trì nh điề u tra anh đã có đơn xin miễ n truy cứ u trá ch nhiệ m hì nh sự cho bị cá o T và tạ i phiên toà anh đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giả m nhẹ hình phạt cho bị cáo ở mức thấp nhấ t.

- Ông Vi Văn Th và bà Lường Thị Áy nhất trí với ý kiến của anh Tr, ông bà mong HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T. Sự việ c tai nạ n xả y ra là điề u không ai mong muố n , bị cáo đã tí ch cự c cứ u chữ a khi tai nạ n xả y ra và đã bồ i thườ ng cho gia đì nh ông bà số tiề n 230.000.000đ.

- Chị Vũ Thị D là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án trình bày: Chị là chị họ của bị cáo Đỗ Văn T, sau khi sự việ c xả y ra chị và bị cá o T đã gặ p gia đì nh bị hạ i để hỏ i thăm và bồ i thườ ng tổ n thấ t cho gia đì nh bị hạ i . Tại biên bả n thoả thuậ n bồ i thườ ng ngà y 05/11/2022, bị cáo T đã bồ i thườ ng số tiề n 230.000.000đ cho gia đì nh bị hạ i , chị ký tên vào bên bản thoả thuận này nhưng chị là người chứng kiến chứ không liên quan đến số tiền 230.000.000đ, số tiề n này là của bị cáo T, chị không có yêu cầu gì trong vụ án này.

- Anh Vi Văn Đ là người làm chứng trình bày : Anh là em trai củ a chị Vi Thị N, trướ c khi xả y ra tai nạ n , anh đi xe má y trướ c chị N nhưng sau khi tai nạ n xảy ra được vài phút thì anh mới biết và quay xe lại thì thấy chị N đã bị ch ấn thương. Khi đó anh thấ y bị cá o T tích cực cữu chữa và cùng anh đưa chị N đi cấ p cứ u, tuy nhiên do chấ n thương quá nặ ng nên chị N bị chết. Gia đì nh bị cá o T có xin lỗi và bồi thường cho gia đình anh sau khi sự việc xả y ra.

Tại phiên tòa, sau phần xét hỏi, tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đố i vớ i bị cá o T, đồng thời đã phân tích tính chất vụ án, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ Văn T từ 01 (một) năm 08 (tám) tháng – 02 (hai) năm tù về tộ i “Vi phạ m quy đ ịnh về tham gia giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 03 (ba) năm 04 tháng – 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo T cho UBND xã Thái Đào, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật T hành án hình sự. Về trách nhiệm dân sự: Không đề nghị xem xét giải quyết. Về vật chứng: Tịch thu xe ba bánh không biển kiểm soát, số máy E3CE-14292 sung công quỹ Nhà nước. Ngoài ra còn đề nghị buộc bị cáo T phải chịu án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Tại lời nói sau cùng bị cáo trình bày, bị cáo ân hận về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lạng Giang, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về thủ tụ c tố tụ ng : Tại phiên toà, nhữ ng ngườ i tham gia tố tụ ng đề u có mặt, Hộ i đồ ng xé t xử tiế n hà nh vụ án theo quy định pháp luật.

. Xem xét về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung đã khai nhận tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông, biên bản khám nghiệm tử T, biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông, kết luận giám định, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo khẳng định những lời khai tại cơ quan điều tra là tự nguyện, đúng sự thật, không bị ép cung, mớm cung hoặc nhục hình; kết hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được làm rõ tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy đã có đầy đủ căn cứ kết luận: Khoảng 17 giờ 40 phút ngày 04/10/2022, tại Km 10, đường Quố c l ộ 31, thuộ c đị a phậ n thôn Đ Giáp, xã Đ Lâm, huyệ n LG, Đỗ Văn T điều khiển xe ba bánh tự chế là phương tiện bị cấm lưu hành tham gia giao thông đi không đúng phần đường dẫn đến làm mặ t trướ c thành thùng xe bên trái xe do T điều khiển va chạm với phần ốp nhựa đầu xe, tay phanh, đèn tín hiệu trước, cách yếm và để chân sau bên trái của xe mô tô biển kiểm soát 98E1-805.09 do chị Vi Thị N điề u khiển lưu thông hướng ngược lại làm chị Ngọ ngã xuống đường và bị chết.

Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi sử dụng xe ba bánh tự chế, là phương tiện bị cấm lưu hành tham gia giao thông, đi không đúng phần đường khi tham gia giao thông nên đã xảy ra va chạm với chị Vi Thị Ngọ, hậu quả chị Ngọ chết đã vi phạm quy định tại khoản 4 Điều 8, khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Do đó xác định cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang truy tố bị cáo T về tội danh và điều khoản như trên hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự an toàn giao thông, gây Tệt hại tới tính mạng, sức khỏe của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội. Do vậy cần có mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử sẽ xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định mức án phù hợp đối với hành vi phạm tội của bị cáo

. Xem xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại phiên tòa và trong quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Sau khi gây tai nạn đã tự nguyện bồi thường Tệt hại cho gia đình bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bố đẻ bị cáo là Đỗ Văn Si là người có công với cách mạng (hiện đang hưởng chế độ thương binh) nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ đượ c quy đị nh tạ i điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Nguyên nhân để xảy ra tai nạn hoàn toàn do lỗi của bị cáo, tuy nhiên sau khi tai nạn xảy ra bị cáo tích cực cứ u chữ a và bồi thường khắc phục hậu quả cho đại diện hợp pháp của bị hại. Bị cáo có nhân thân tốt, có nhiề u tì nh tiế t giả m nhẹ trá ch nhiệ m hì nh sự , có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội với lỗ i vô ý , bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của bản thân, ăn hối hận về hành vi phạm tội của mình, hơn nữ a tạ i phiên toà , Đ diệ n hợ p phá p củ a bị hạ i cũng đều đề nghị cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất . Do vậ y, để đảm bảo tính nhân đạo , khoan hồ ng củ a Nhà nướ c và phá p luậ t , Hộ i đồ ng xé t xử thấ y không cần bắ t bị cáo phải cách ly khỏi đờ i số ng xã hội mà chỉ cần cho bị cáo cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương cũng đủ giúp răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân biế t tuân thủ phá p luậ t theo như mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.

. Về trách nhiệm dân sự: Sau khi tai nạ n xả y ra, bị cáo tự nguyện thăm hỏi và bồi thường cho gia đình bị hại 230.000.000 đồng. Đến nay, ngườ i đại diện hợ p phá p củ a bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm, các bên đã thỏa thuận xong về trách nhiệm dân sự. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án không yêu cầu bồi thường về dân sự nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

. Về xử lý vật chứng:

Xe mô tô biển kiểm soát 98E1-805.09 quá trình điều tra xác định chủ sở hữu là ông Vi Văn Thìn (bố đẻ chị Ngọ) và 01 giấy phép lái xe của chị Vi Thị Ngọ là của chị Ngọ. Ngày 17/11/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lạng Giang đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô và giấy phép lái xe của chị Ngọ cho anh Bùi Văn Trường, sinh năm 1985, trú tại thôn Hiệp Sơn, xã Biên Sơn, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang (chồng chị Ngọ) là người đại diện theo uỷ quyền của gia đình chị Ngọ là có căn cứ.

Đối với xe ba bánh không biển kiểm soát, số máy E3CE-14292 là xe tự chế, không được tham gia giao thông và không nằm trong hệ thống xe cơ giới liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo vẫn còn giá trị nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước theo quy định tại Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án được quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65, Điề u 47 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ vào Điều 106, khoản 2 Điều 136, các Điều 331, 332, 333, 336, 337 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

- Xử phạt bị cáo Đỗ Văn T 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 (ba) năm 04 (bố n) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 09/01/2023).

Giao bị cáo Đỗ Văn T cho Ủy ban nhân dân xã Thái Đào, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật T hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật T hành án hình sự.

- Về vật chứng: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước xe ba bánh tự chế mà u xanh không biển kiểm soát. (Theo Quyết định chuyển vật chứng số 122/QĐ-VKS ngày 30/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang).

- Về án phí: Buộc bị cáo Đỗ Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, ngườ i Đ diệ n hợ p phá p củ a bị hạ i, ngườ i có quyề n lợ i nghĩ a vụ liên quan trong vụ á n có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được T hành theo quy định tại Điều 2 Luật T hành án dân sự thì người được T hành án dân sự, người phải T hành án dân sự có quyền thỏa thuận T hành án, quyền yêu cầu T hành án, tự nguyện T hành án hoặc bị cưỡng chế T hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật T hành án dân sự. Thời hiệu T hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật T hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm./.

Cỡ chữ