- Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYỄN MINH TRÍ ĐIỀU 249 - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH LONG AN Bản án số: 01/2023/HS-ST Ngày: 04 - 01 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Thảnh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Chí Lin
Ông La Văn Việt
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Huỳnh Như – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Phạm Hồng Diễm - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 165/2022/TLST-HS ngày 16 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 165/2022/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Minh T, sinh ngày 27/5/2022, tại Vĩnh Long;
Nơi cư trú: Ấp 11, xã M, huyện T, tỉnh Vĩnh Long; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Quốc C và bà Nguyễn Thị U; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/9/2022 cho đến nay (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1/ Huỳnh Ngọc Y, sinh năm 1999. Địa chỉ: Ấp Đ, xã T, huyện N, tỉnh Cà
Mau (vắng mặt)
2/ Huỳnh Công C, sinh năm 1981. Địa chỉ: Ấp H, xã N, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)
- Người làm chứng:
1/ Nguyễn Minh K, sinh năm 1990. Địa chỉ: Ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh
Long An. (vắng mặt)
2/ Nguyễn Văn A, sinh năm 1995. Địa chỉ: Ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 01 giờ ngày 03/9/2022, tại ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An, bị cáo Nguyễn Minh T gặp một người nam thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) và hỏi mua 3.000.000 đồng chất ma túy (dạng khay ketamine) và 01 viên thuốc lắc để sử dụng, người nam thanh niên đồng ý và hẹn bị cáo T khoảng 15 phút sau đến vòng xoay Tân Đức thuộc ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An để nhận ma túy. Sau đó, bị cáo T đi bộ đến vòng xoay Tân Đức gặp người nam thanh niên và đưa số tiền 3.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền xong, nam thanh niên này chỉ bị cáo T vị T để túi nylon chứa chất ma túy cách đó khoảng 05m được để trên lòng đường, rồi nam thanh niên bỏ đi. Bị cáo T đi đến vị T người nam thanh niên chỉ và nhặt 01 túi nylon có rãnh khép viền đỏ bên trong có: 01 túi nylon có rãnh khép viền trắng chứa chất ma túy, 01 túi nylon có rãnh khép viền xanh chứa chất ma túy, 01 viên thuốc lắc. Bị cáo T cất giấu túi nylon có chứa chất ma túy vào túi quần sau bên trái đang mặc trên người. Sau đó, bị cáo T đi bộ đến khu vực quán Karaoke K thuộc ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An để rước bạn gái tên Huỳnh Ngọc Y. Đến khoảng 03 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo T điều khiển xe mô tô hiệu Honda, loại Vision, màu trắng, biển số 83X1-046.20 của Y, chở Y về nhà trọ tại ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An. Khi về đến trước cửa phòng trọ thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang.
Vật chứng tạm giữ: 01 túi nylon có rãnh khép viền đỏ bên trong có: 01 túi nylon có rãnh khép viền trắng chứa tinh thể màu trắng nghi là chất ma túy, 01 túi nylon có rãnh khép viền xanh lá bên trong chứa tinh thể màu trắng nghi là chất ma túy, 01 viên nén màu nâu nghi là thuốc lắc, 01 xe mô tô hiệu Honda, loại Vision, màu trắng, biển số 83X1-046.20.
Tại bản Kết luận giám định số 824/KL-KTHS ngày 07/9/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Long An, kết luận:
“- Tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) túi nylon có rãnh khép viền trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 1,6219 gam, loại: Ketamine.
- Tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) túi nylon có rãnh khép viền xanh lá được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,4711 gam, loại: Ketamine.
- Viên nén màu nâu đựng trong 01 (một) túi nylon có rãnh khép viền đỏ được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,3530 gam, loại: MDMA và Ketamine.
Kèm theo kết luận giám định: 01 bản ảnh giám định gồm 21 ảnh được lưu tại Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Long An.
Mẫu còn lại sau giám định có khối lượng: 1,3292 gam (Túi nylon có rãnh khép viền trắng); 0,3083 gam (Túi nylon có rãnh khép viền xanh lá).
Không hoàn lại đối tượng giám định: Viên nén màu nâu đã phục vụ hết cho công tác giám định.
Tất cả được đóng gói niêm phong số 824.”
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Minh T hoàn toàn nhìn nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa truy tố, không đưa ra chứng cứ nào minh oan, không có ý kiến thắc mắc, khiếu nại về kết luận giám định, đồng thời không khiếu nại đối với Cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Tại bản cáo trạng số 03/CT-VKSĐH ngày 12 tháng 12 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An truy tố bị cáo Nguyễn Minh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa vẫn giữ y quan điểm như Cáo trạng đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật, đồng thời phân tích đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T mức hình phạt từ 02 năm tù đến 02 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/9/2022.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Đối với xe mô tô hiệu Honda, loại Vision, màu trắng, biển số 83X1-046.20 là tài sản hợp pháp của ông Huỳnh Công C - cha ruột của Huỳnh Ngọc Y. Ông C cho Y mượn xe mô tô để sử dụng phục vụ cho việc đi lại và không biết việc bị cáo Nguyễn Minh T tàng trữ trái phép chất ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành trao trả xong cho ông Huỳnh Công C 01 xe mô tô biển số 83X1-046.20 theo biên bản trả tài sản ngày 10/11/2022 nên đề nghị không xem xét.
- Đối với mẫu còn lại sau giám định có khối lượng: 1,3292 gam (Túi nylon có rãnh khép viền trắng); 0,3083 gam (Túi nylon có rãnh khép viền xanh lá) tất cả được đóng gói niêm phong số 824 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Long An: đề nghị tịch thu tiêu hủy.
Về biện pháp tư pháp: Bị cáo Nguyễn Minh T không có thu lợi bất chính từ việc thực hiện hành vi phạm tội nên đề nghị không đề cập, xem xét.
Đối với Huỳnh Ngọc Y, về ý thức do không biết việc bị cáo Nguyễn Minh T thực hiện hành vi phạm tội, không cấu thành tội phạm có liên quan nên đề nghị không xem xét.
Đối với người nam thanh niên có hành vi bán trái phép chất ma túy cho bị cáo Nguyễn Minh T; do không xác định được nhân thân, lai lịch, chỉ có lời khai duy nhất của bị cáo T, không có căn cứ xử lý nên đề nghị không xem xét.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đức Hòa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng nhưng đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
. Về nội dung:
Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Minh T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang vào lúc 03 giờ 30 phút ngày 03 tháng 9 năm 2022 cùng với bản kết luận giám định số 824/KT-KTHS ngày 07/9/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Long An và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định:
Khoảng 03 giờ 30 phút ngày 03 tháng 9 năm 2022, tại ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An, bị cáo Nguyễn Minh T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy gồm: 02 túi nylon có rãnh khép với tổng khối lượng là 2,093 gam, loại Ketamine và 01 viên nén màu nâu, có khối lượng: 0,3530 gam, loại: MDMA và Ketamine, với mục đích để sử dụng.
Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội. Hành vi này đã xâm hại trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây thiệt hại lớn về kinh tế, gây tổn hại sức khỏe con người, làm suy thoái nòi giống, gây mất trật tự xã hội.
Khi thực hiện hành vi, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được hậu quả nghiêm trọng của ma túy đối với xã hội và bản thân bị cáo. Bị cáo biết rõ ma túy là một trong những nguyên nhân của nhiều tội phạm khác, nhiều căn bệnh hiểm nghèo, bị nghiêm cấm vận chuyển, mua bán, tàng trữ dưới bất kỳ hình thức nào nhưng để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy, bị cáo vẫn bất chấp pháp luật thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Minh T đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố bị cáo Nguyễn Minh T theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan sai.
Hành vi của bị cáo cần được xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự, có mức án phù hợp, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng trừng phạt, giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét cho bị cáo hưởng tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì hành vi phạm tội bị cáo Nguyễn Minh T còn có thể bị phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo Nguyễn Minh T trình bày không có công việc ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Minh T.
. Về biện pháp tư pháp: Bị cáo Nguyễn Minh T không có thu lợi bất chính từ việc thực hiện hành vi phạm tội nên không đề cập, xem xét.
. Về xử lý vật chứng:
Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Đối với xe mô tô hiệu Honda, loại Vision, màu trắng, biển số 83X1-046.20 là tài sản hợp pháp của ông Huỳnh Công C - cha ruột của Huỳnh Ngọc Y. Ông C cho Y mượn xe mô tô để sử dụng phục vụ cho việc đi lại và không biết việc bị cáo Nguyễn Minh T tàng trữ trái phép chất ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành trao trả xong cho ông Huỳnh Công C 01 xe mô tô biển số 83X1-046.20 theo biên bản trả tài sản ngày 10/11/2022 nên không xem xét.
- Đối với mẫu còn lại sau giám định có khối lượng: 1,3292 gam (Túi nylon có rãnh khép viền trắng); 0,3083 gam (Túi nylon có rãnh khép viền xanh lá); tất cả được đóng gói niêm phong số 824 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Long An là chất cấm nên tịch thu tiêu hủy.
. Đối với Huỳnh Ngọc Y, về ý thức do không biết việc bị cáo Nguyễn Minh T thực hiện hành vi phạm tội, không cấu thành tội phạm có liên quan nên không xem xét.
Đối với người nam thanh niên có hành vi bán trái phép chất ma túy cho bị cáo Nguyễn Minh T; do không xác định được nhân thân, lai lịch, chỉ có lời khai duy nhất của bị cáo T, không có căn cứ xử lý nên không xem xét.
. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Nguyễn Minh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Minh T 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/9/2022.
Áp dụng khoản 1, 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Minh T 45 ngày kể từ ngày tuyên án (04/01/2023) để đảm bảo thi hành án.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: mẫu còn lại sau giám định có khối lượng: 1,3292 gam (Túi nylon có rãnh khép viền trắng); 0,3083 gam (Túi nylon có rãnh khép viền xanh lá); tất cả được đóng gói niêm phong số 824 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Long An.
Tang vật trên do Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 39 ngày 15/12/2022.
3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo Nguyễn Minh T nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước.
4. Án xử sơ thẩm công khai. Căn cứ Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh Long An; - VKSND huyện Đức Hòa; - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Long; - Sở Tư pháp tỉnh Long An; - Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Đức Hòa; - Chi cục Thi hánh án dân sự huyện Đức Hòa; - Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Kim Thảnh |