- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị X - Nguyễn Văn G"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho chị Lê Thị X được ly hôn anh Nguyễn Văn G.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2023/HNGĐ – ST Ngày 06 tháng 01 năm 2023 “V/v Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Trang Nhung
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đường Ngọc Đại
2. Bà Doãn Thị Vệ
- Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Bình Phương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên tham gia phiên tòa: Ông Lương Duy Long – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 245/2022/TLST - HNGĐ ngày 22 tháng 11 năm 2022, về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2022/QĐXXST- HNGĐ ngày 22 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lê Thị X, sinh năm 1982, (có mặt).
Nơi cư trú: Phường T, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc.
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn G, sinh năm 1979, (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Nơi cư trú: Phường T, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện đề ngày 14 tháng 11 năm 2022 và lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn chị Lê Thị X trình bày:
Chị và anh Nguyễn Văn G kết hôn ngày 02 tháng 01 năm 2000, được đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc. Trước khi kết hôn anh chị được tự do tìm hiểu và tự nguyện đi đến hôn nhân. Kết hôn xong chị về làm dâu và sống chung cùng gia đình anh G ở phường T, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc. Tình cảm vợ chồng những năm đầu bình thường, đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do quan điểm sống và cách sống của hai vợ chồng khác nhau. Hiện tại vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay, không còn quan tâm và chăm sóc nhau trong cuộc sống. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không có hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng không thể hàn gắn được nên chị xin ly hôn anh G để cả hai có điều kiện tạo lập cuộc sống mới.
* Bị đơn anh Nguyễn Văn G vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình giải quyết vụ án anh G trình bày:
Anh thừa nhận thời gian kết hôn, quá trình vợ chồng chung sống, mâu thuẫn vợ chồng và thời gian vợ chồng sống ly thân như lời trình bày của chị X là đúng. Nay chị X làm đơn xin ly hôn anh cũng xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không có hạnh phúc, trên thực tế vợ chồng đã sống ly thân năm 2019 đến nay anh không còn quan tâm và hoàn toàn bỏ mặc nhau trong cuộc sống nên anh cũng đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị X và đề nghị Tòa án sớm xem xét giải quyết để cả hai có điều kiện tạo lập cuộc sống mới. Do tính chất công việc nên anh không thể thường xuyên đến Tòa án làm việc được nên anh đề nghị giải quyết vắng mặt và đề nghị Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt anh.
Về con chung: Chị X và anh G đều xác nhận vợ chồng chị có hai con chung là cháu Nguyễn Thị P, sinh ngày 24 tháng 11 năm 2000 và cháu Nguyễn Thị M, sinh ngày 16/10/2004. Hiện tại các cháu đã đủ tuổi trưởng thành, trên 18 tuổi và có thể tự túc lao động để nuôi sống bản thân nên anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung.
Về tài sản chung, các khoản vay, cho vay và công sức đóng góp của hai vợ chồng: Chị X và anh G đều không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc tại phiên tòa sơ thẩm: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và các đương sự thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Tòa án xác định đúng quan hệ pháp luật, tư cách của người tham gia tố tụng, thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và bảo đảm thời hạn chuẩn bị xét xử cũng như chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu.
* Về giải quyết vụ án: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, Khoản 2 Điều 227, Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/6/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Về hôn nhân: Cho chị Lê Thị X được ly hôn anh Nguyễn Văn G.
- Về án phí sơ thẩm: Buộc chị Lê Thị X phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ anh Nguyễn Văn G nhưng anh G vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Chị Lê Thị X khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với anh Nguyễn Văn G. Hiện tại anh G đang sinh sống tại: Phường T, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc. Đây là tranh chấp Hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị X và anh G kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 02 tháng 01 năm 2000 tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc là phù hợp với quy định của Luật Hôn nhân và gia đình nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp.
Qua xác minh tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố P nơii chị X và anh G sinh sống xác nhận: Hiện tại chị X và anh G là công dân cư trú tại tổ dân phố Kim Xuyên, phường T, thành phố P. Quá trình chung sống anh chị có phát sinh mâu thuẫn và hiện tại đang sống ly thân nhau từ năm 2019 đến nay. Địa phương cũng xác nhận vợ chồng chị X và anh G có hai con chung là cháu Nguyễn Thị P, sinh ngày 24 tháng 11 năm 2000 và cháu Nguyễn Thị M, sinh ngày 16 tháng 10 năm 2004. Hiện tại cháu đã đủ tuổi trưởng thành, trên 18 tuổi. Nay chị X làm đơn xin ly hôn anh G phía địa phương đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
Xét thấy, việc chị X làm đơn xin ly hôn anh G vì thấy rằng quá trình chung sống vợ chồng không có hạnh phúc, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm về tình cảm. Từ năm 2019 anh chị đã sống ly thân, không còn quan tâm chăm sóc và hoàn toàn bỏ mặc nhau trong cuộc sống. Chị X làm đơn xin ly hôn và anh G đồng ý nhưng đề nghị giải quyết vắng mặt. Điều đó cho thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị X và anh G đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị X với anh G.
Về con chung: Chị X và anh G đều thừa nhận vợ chồng có hai con chung là cháu Nguyễn Thị P, sinh ngày 24 tháng 11 năm 2000 và cháu Nguyễn Thị M, sinh ngày 16 tháng 10 năm 2004. Hiện tại các con anh chị đã đủ tuổi trưởng thành, trên 18 tuổi và có thể tự túc lao động nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết là phù hợp.
Về tài sản chung, tài sản riêng, khoản vay, cho vay và công sức đóng góp: Chị X và anh G không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí sơ thẩm: Theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án chị X phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, Khoản 2 Điều 227, Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/6/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
1. Về hôn nhân: Cho chị Lê Thị X được ly hôn anh Nguyễn Văn G.
2. Về án phí sơ thẩm: Chị Lê Thị X phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số: 0000952 ngày 18 tháng 11 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm; bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai./.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân thành phố Phúc Yên; - Chi cục THADS thành phố P; - Các đương sự; - UBND phường T; - Lưu HSVA; Văn phòng. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Trang Nhung |