vanban.org

Bản án 01/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

[1] Về quan hệ hôn nhân và gia đình: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Minh T. Bà Nguyễn Thị Minh T được ly hôn với ông Nguyễn Tuấn K. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn Thư-Kiệt"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 01/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 03/01/2023
V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Quốc Việt.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Hùng Bích

2. Bà Lê Thị Thanh Vân

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Ông Võ Phan Hưng – Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 455/2022/TLST-HNGĐ, ngày 13 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 484/2022/QĐXXST – HNGĐ ngày 22 tháng 11 năm 2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Minh T, sinh năm 1990. (có mặt)

Hộ khẩu thường trú: số X, khóm T, phường M, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

Địa chỉ liên hệ: số X, tổ V, ấp B, xã M, thành phố L, tỉnh An giang.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Tuấn K, sinh năm 1985. (vắng mặt)

Hộ khẩu thường trú: số X, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng nguyên đơn bà Nguyễn Thị Minh T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Tuấn K tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường M, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang theo giấy đăng ký số 008/2012, quyển 01/2012, ngày 16/01/2012. Hôn nhân lần thứ nhất của cả hai, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2015 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng về quan điểm sống, thường xuyên cãi vã, vợ chồng ly thân từ năm 2015 đến nay. Cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt, đã nhiều lần tìm cách hàn gắn tình cảm nhưng không thành nên bà yêu cầu được ly hôn với ông K.

Về quan hệ con chung: Có 01 (một) con chung tên Nguyễn Nguyễn Hải Đ, sinh ngày 03/02/2014 hiện đang do bà T nuôi dưỡng. Bà yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con chung.

Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Nguyễn Tuấn K không có văn bản trình bày ý kiến, vắng mặt trong quá trình tố tụng giải quyết vụ án

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đảm bảo theo đúng trình tự quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Yêu cầu khởi kiện của bà Thư là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên Toà, ý kiến của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Tranh chấp giữa bà Nguyễn Thị Minh T và ông Nguyễn Tuấn K là tranh chấp về ly hôn, nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ khoản 3 Điều 208 Bộ luật tố tụng dân sự đối với vụ án hôn nhân và gia đình liên quan đến người chưa thành niên phải tiến hành biện pháp thu thập tài liệu, chứng cứ để xác định nguyên nhân của việc phát sinh tranh chấp. Tòa án đã tiến hành biện pháp lấy lời khai làm rõ nguyên nhân phát sinh tranh chấp.

Ông K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt. Căn cứ Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông K.

Về quan hệ hôn nhân:

[2.1] Hôn nhân giữa bà T và ông K xuất phát từ sự tự nguyện của các bên, không vi phạm điều cấm của Luật Hôn nhân và gia đình, đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền và được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn, đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình.

Bà T khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông K, căn cứ để bà yêu cầu do do tính tình không hòa hợp, thường xuyên cự cãi, bất đồng quan điểm sống, ông K không quan tâm, chăm sóc vợ con, vợ chồng đã ly thân từ năm 2015. Xét thấy, qua phần trình bày của bà T, ông K không có văn bản trình bày ý kiến, không cung cấp tài liệu, chứng cứ thể hiện nguyện vọng đoàn tụ. Tòa án đã tiến hành hòa giải, tạo điều kiện cho các bên hàn gắn, đoàn tụ nhưng ông K không đến tham gia. Do đó, đủ căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, các bên đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng theo Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình. Do đó, yêu cầu khởi kiện của bà T là có căn cứ, phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình nên được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

Về quan hệ con chung và cấp dưỡng: Có 01 (một) con chung tên Nguyễn Nguyễn Hải Đ, sinh ngày 03/02/2014 hiện đang do bà T nuôi dưỡng. Bà yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy, hiện cháu Đ đang sống ổn định cùng bà T, ông K cũng không có ý kiến tranh chấp về con chung, để tránh xáo trộn cuộc sống của cháu cần tiếp tục để bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà T không yêu cầu giải quyết, nên không xét đến.

Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà T có nghĩa vụ nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 266; Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

- Điều 19; Điều 51; Khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn Nhân và Gia Đình năm 2014;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

[1] Về quan hệ hôn nhân và gia đình:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Minh T. Bà Nguyễn Thị Minh T được ly hôn với ông Nguyễn Tuấn K.

Giấy chứng nhận kết hôn số 08 ngày 16/01/2012 do UBND phường M, thành phố L, tỉnh An Giang cấp không còn giá trị pháp lý.

[2] Về quan hệ con chung và cấp dưỡng:

Có 01 con chung chưa thành niên tên tên Nguyễn Nguyễn Hải Đ, sinh ngày 03/02/2014. Sau khi ly hôn, bà T được tiếp tục chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung. Bà T không yêu cầu cấp dưỡng.

Bà T phải tạo điều kiện cho ông K trong việc thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung. Việc nuôi con chung không cố định.

[3] Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không giải quyết.

[4] Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm:

Bà T có trách nhiệm nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân, được khấu trừ vào 300.000 đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000899 ngày 13 tháng 10 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên.

[5] Về quyền kháng cáo:

Ông K được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Bà T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, Điều 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

(Đã giải thích điều 26 Luật thi hành án)

Cỡ chữ