- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hoàng Thị Thu H về việc ly hôn.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH QUẢNG NINH Bản án số: 01/2023/HNGĐ-ST Ngày 09-02-2023 “V/v Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU – TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Phạm Ngọc Bình Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Giới.
2. Ông Nguyễn Văn Bẩy.
- Thư ký phiên tòa: ông Hoàng Đức Trọng – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.
Ngày 09 tháng 02 năm 2023, tại Phòng xử án, Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 391/2022/TLST-HNGĐ, ngày 02 tháng 11 năm 2022 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 12 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2023/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 01 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Hoàng Thị Thu H, sinh năm 1968. Trú tại: Tổ 3, khu V, phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn: Ngô Quyết T, sinh năm 1968. Trú tại: Tổ 3, khu V, phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt lần 2 không lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 26 tháng 10 năm 2022 và bản tự khai ngày 16 tháng 11 năm 2022, nguyên đơn Hoàng Thị Thu H trình bày:
Bà và ông Ngô Quyết T tự nguyện kết hôn, có đăng ký tại Ủy ban nhân dân phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh năm 1991. Sau khi kết hôn, ông bà về chung sống tại Tổ 3, khu V, phường M, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đến đầu năm 2004 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung. Từ năm 2016 đến năm 2019, ông bà sống ly thân mỗi người ở một nhà khác nhau. Từ đầu năm 2020 đến tháng 8 năm 2022, ông bà quay lại sống chung một nhà, mặc dù được gia đình và người thân hòa giải nhưng tình cảm vẫn không được cải thiện. Nay tình cảm vợ chồng giữa hai người không còn, cuộc sống chung vợ chồng không còn hạnh phúc, bà đề nghị Tòa án giải quyết cho ông bà được ly hôn.
Về con chung: Quá trình chung sống ông bà có 01 con là Ngô Tuấn T, sinh ngày 22/5/1991 đã thành niên, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và các khoản nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 16/11/2022, ông Ngô Quyết T có lời khai như sau:
Về tình cảm: ông bà tự nguyện kết hôn, có đăng ký tại Ủy ban nhân dân phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh năm 1991. Sau khi kết hôn, ông bà về chung sống tại Tổ 3, khu V, phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn nhưng chưa đến mức trầm trọng. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng có một số quan điểm sống khác nhau và có xảy ra cãi vã. Ông không đồng ý ly hôn.
Về con chung: ông bà có 01 con là Ngô Tuấn T, sinh ngày 22/5/1991 đã thành niên, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và các khoản nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa:
Về quan hệ tranh chấp: bà Hoàng Thị Thu H có đơn khởi kiện đề nghị được ly hôn với ông Ngô Quyết T. Đây là vụ án “Tranh chấp về hôn nhân gia đình” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a, khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải theo đúng trình tự và thủ tục của Bộ luật tố tụng dân sự quy định. Trong quá trình tống đạt các tài liệu, quyết định tố tụng của Tòa án cho các đương sự theo đúng trình tự thủ tục tố tụng. Tại phiên tòa, bà Hoàng Thị Thu H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; ông Ngô Quyết T vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự.
Về tình cảm: bà Hoàng Thị Thu H và ông Ngô Quyết T kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đăng ký năm 1991 tại Ủy ban nhân dân phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Quá trình chung sống, vợ chồng hạnh phúc được một thời gian thì và phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung. Ông bà đã sống ly thân một thời gian dài sau đó quay lại sống cùng nhà. Tuy nhiên, mâu thuẫn vẫn không được giải quyết. Như vậy, thực tế cuộc hôn nhân của ông bà đã mâu thuẫn đến mức trầm trọng mà không thể hàn gắn được, mục đích chung sống không đạt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, yêu cầu của bà Hoàng Thị Thu H đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Ngô Quyết T có căn cứ pháp luật, cần chấp nhận.
Về con chung: Quá trình chung sống ông bà có 01 con là Ngô Tuấn T, sinh ngày 22/5/1991 đã thành niên, người bình thường nên Tòa án không đề cập giải quyết.
Về tài sản chung và các khoản nợ: ông bà không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về án phí: bà Hoàng Thị Thu H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56; Điều 57 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hoàng Thị Thu H về việc ly hôn.
1. Về tình cảm: bà Hoàng Thị Thu H được ly hôn với ông Ngô Quyết T.
2. Về án phí: Bà Hoàng Thị Thu H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm (chị Hoàng Thị Thu H đã nộp theo biên lai thu tiền số 0009776, ngày 02/11/2022 của chi cục thi hành án dân sự thị xã Đông Triều);
Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Quảng Ninh - VKSND cùng cấp; - Chi cục THADS cùng cấp; - UBND phường M; - Lưu hồ sơ./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM. Thẩm phán chủ tọa phiên tòa Phạm Ngọc Bình |