vanban.org

Bản án 01/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Về điều luật áp dụng:

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Xử Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Trương Thị Hoa M và anh Đỗ Văn H. [3]. Về con chung: Giao cho chị Trương Thị Hoa M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là cháu Đỗ Ngọc H1, sinh ngày 15/5/2019. Giao cho anh Đỗ Văn H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là chá… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án"
  • Tòa quyết gì? [1]. Về điều luật áp dụng:
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

[[
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆNTHANH BA
TỈNH PHÚ THỌ
________.__________________________
Bản án số: 01 /2023/HNGĐ-ST.
Ngày: 11 tháng 01 năm 2023.
V/v: “Tranh chấp Hôn nhân
và gia đình”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BA-TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vi Thị Năm.

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Phùng Văn Thị;

2/ Ông Kiều Công Ích.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Trần Đình Hòa - Thư ký Tòa án nhân dân Huyện Thanh Ba;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Việt Hà - Kiểm sát viên.

Trong ngày 11 tháng 01 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 215/2022/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 10 năm 2022 về tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 153/2022/QĐXXST-DS, ngày 30 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Trương Thị Hoa M, sinh năm 1994;

Nơi đăng ký HKTT: Khu Q, xã Q, Huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ; Nơi ở hiện tại: Khu Đầm Giang, xã Quảng Yên, Huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ.

Bị đơn: Anh Đỗ Văn H, sinh năm 1987;

Nơi cư trú: Khu Q, xã Q, Huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ;

(Chị M và anh H đều có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, lời khai trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Trương Thị Hoa M trình bày: Chị và anh Đỗ Văn H kết hôn với nhau ngày 29/12/2012, trước khi tổ chức lễ cưới có tự nguyện tìm hiểu và được Ủy ban nhân dân xã Quảng Nạp (Nay là xã Q) đăng ký kết hôn. Khi đó chị làm công nhân còn anh H làm nghề tự do. Sau khi kết hôn anh chị ở nhà bố mẹ anh H được 03 năm thì ra ở riêng trên đất cạnh nhà bố mẹ anh H. Tình cảm vợ chồng hòa thuận được ít, mâu thuẫn ngày càng nhiều. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh hay uống rượu về đánh đập, chửi bới chị, không quan tâm đến mẹ con chị và không chịu làm ăn. Bố chồng chị cũng hay uống rượu và chửi, đuổi chị ra khỏi nhà. Do đó chị đã về nhà bố mẹ đẻ ở từ ngày 13/9/2022 đến nay. Nguyện vọng của chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh H.

Về con chung: Chị và anh H có 02 con chung là Đỗ Ngọc A, sinh ngày 10/11/2013 và Đỗ Ngọc H1, sinh ngày 15/5/2019 (Hiện nay hai con chung đang ở với anh H). Do hiện nay chị có điều kiện để chăm sóc các con nên khi ly hôn chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, vay nợ chung và các vấn đề khác: Chị xác nhận chị và anh H không có, không yêu cầu giải quyết.

* Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị đơn là anh Đỗ Văn H trình bày: Về quan hệ hôn nhân: Anh xác định về ngày tháng, thủ tục đăng ký kết hôn, quá trình chung sống đúng như chị M trình bày ở trên. Mâu thuẫn không có gì lớn, anh đi làm xa có nhắn tin về cho chị M là “tối anh về” nhưng chị M chửi anh và không muốn anh về. Mâu thuẫn chỉ có vậy nhưng chị M đã bỏ đi ra khỏi nhà. Nay nguyện vọng của anh yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị M.

Về con chung: Anh và chị M có 02 con chung như chị M đã khai. Nếu ly hôn đặt ra anh yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Từ ngày cưới chị M về và sinh con thì anh là người lo kinh tế chính để nuôi gia đình vợ con.

Về tài sản chung, vay nợ chung và các vấn đề khác: Anh xác nhận anh và chị M không có, không yêu cầu giải quyết.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Thanh Ba tham gia phiên tòa, xác định quá trình giải quyết vụ án cho đến tại phiên tòa, Tòa án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và căn cứ vào các tài liệu chứng cứ, tình tiết của vụ án, các quy định của pháp luật đề nghị Hội đồng xét xử: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Trương Thị Hoa M và anh Đỗ Văn H. Về con chung: Nên giao cho mỗi người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 01 con chung. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau; Về tài sản chung, vay nợ chung và các vấn đề khác: Chị M và anh H xác nhận không có nên không đặt ra giải quyết. Về án phí: Chị M và anh H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Tranh chấp xin ly hôn giữa chị Trương Thị Hoa M và anh Đỗ Văn H là tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn có đăng ký hộ khẩu thường trú tại Khu Q, xã Q, Huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị Hoa M và anh Đỗ Văn H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký kết hôn, do vậy hôn nhân giữa chị M và anh H là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, do không cùng quan điểm, không quan tâm đến nhau, nên tình cảm ngày càng xa cách, không cùng nhau để xây dựng hạnh phúc gia đình. Quan điểm của chị M và anh H đều thuận tình ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn tình cảm, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; Do vậy, Hội đồng xét xử nên công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Trương Thị Hoa M và anh Đỗ Văn H là phù hợp với quy định tại Điều 55 của Luật hôn nhân và gia đình.

[3]. Về con chung: Chị Trương Thị Hoa M và anh Đỗ Văn H có với nhau 02 con chung, hiện nay cả hai con chung đang ở với anh H và bố mẹ anh H tại Khu Q, xã Q, Huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ. Chị M và anh H đều xin nhận trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Xét nguyện vọng xin trực tiếp nuôi dưỡng các con chung của chị M và anh H là chính đáng. Tuy nhiên nếu giao cả hai con chung cho một người trực tiếp nuôi dưỡng sẽ gặp nhiều khó khăn và không đảm bảo cho cuộc sống của các con. Qua xác minh tại địa phương và thực tế tại nhà anh H và bố mẹ anh H thì thấy rằng: Hàng ngày anh H đi làm xa, có ngày về, ngày không về, các con chủ yếu là do bố mẹ và ông bà nội anh H chăm sóc. Xét về điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con chung của chị M và anh H là ngang nhau nên giao cho mỗi người nuôi 01 con chung là phù hợp. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Thanh Ba cũng đề nghị Hội đồng xét xử giao cho mỗi người trực tiếp nuôi dưỡng 01 con chung là có căn cứ nên chấp nhận. Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử nhận thấy: Hiện nay cháu Đỗ Ngọc H1 còn nhỏ, cần có sự quan tâm, chăm sóc của người mẹ; Do đó nên giao cháu Đỗ Ngọc H1 cho chị Trương Thị Hoa M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giao cháu Đỗ Ngọc A cho anh Đỗ Văn H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.

[4]. Tài sản chung, vay nợ chung và các vấn đề khác: Chị Trương Thị Hoa M và anh Đỗ Văn H đều xác nhận không có nên không đặt ra giải quyết.

[5]. Án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Trương Thị Hoa M tự nguyện nhận nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Về điều luật áp dụng:

Căn cứ vào Điều 55, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Xử Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Trương Thị Hoa M và anh Đỗ Văn H.

[3]. Về con chung: Giao cho chị Trương Thị Hoa M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là cháu Đỗ Ngọc H1, sinh ngày 15/5/2019. Giao cho anh Đỗ Văn H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là cháu Đỗ Ngọc A, sinh ngày 10/11/2013 (Cả hai con chung đang ở với anh H và bố mẹ anh H tại Khu Q, xã Q, Huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ). Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

[4]. Về tài sản chung, vay nợ chung và các vấn đề khác: Chị Trương Thị Hoa M và anh Đỗ Văn H xác định không có nên không đặt ra giải quyết.

[5]. Về án phí: Chị Trương Thị Hoa M tự nguyện nhận nộp cả 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị M đã nộp 300.000.đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí tại Chi cục thi hành án Dân sự Huyện Thanh Ba theo biên lai thu số: AA/2020/0003552, ngày 25/10/2022. Hoàn trả cho chị Trương Thị Hoa M 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng).

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ