vanban.org

Bản án 01/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Ngô Trí Th.

Về hôn nhân: Anh Ngô Trí Th được ly hôn với chị Lương Phương Th. Về con chung: Giao con chung Ngô Trí D, sinh ngày 19/6/2021 cho anh Ngô Trí Th được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Lương Phương Th do anh Ngô Trí … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp HNGĐ"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Ngô Trí Th.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N Đ
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2023/HNGĐ-ST
Ngày 13 - 01 - 2023
V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

-

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N Đ, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vương Hoàng Hào.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Thị Hương.

2. Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Huyền Trang - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân huyện N Đ, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N Đ, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Văn Đình Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N Đ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 247/2022/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 11 năm 2022 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2022/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Ngô Trí Th. Sinh năm 1992. Nơi cư trú: Xóm 7, xã NA, huyện N Đ, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt, có đơn giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Chị Lương Phương Th. Sinh năm 2002. Nơi đăng ký thường trú: Xóm 7, xã NA, huyện N Đ, Nghệ An. Chỗ ở hiện nay: Tổ 4, ấp Bến Rắn, xã Phước Thiền, huyện NT, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt, có đơn xin được giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện xin ly hôn, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Ngô Trí Th trình bày:

Về hôn nhân: Anh kết hôn với chị Lương Phương Th vào ngày 16/7/2020, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Lĩnh Sơn, huyện A S, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống được khoảng một năm rưỡi thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính cách, lối sống, suy nghĩ, quan điểm không hợp nhau. Vợ vay tiền đầu tư, buôn bán không thuận lợi dẫn đến thua lỗ, nợ nần. Vợ bỏ đi tỉnh Đồng Nai làm công nhân từ tháng 9/2022 cho đến nay, anh một mình nuôi con, vợ không hỏi han, quan tâm tới hai bố con. Nay anh không còn tình cảm với chị Thảo nên yêu cầu được ly hôn.

Về con chung: Anh và chị Lương Phương Th có 01 con chung tên là Ngô Trí D, sinh ngày 19/6/2021. Tại đơn khởi kiện anh nhường quyền nuôi con cho vợ nhưng sau đó hai vợ chồng đã thỏa thuận với nhau về việc nuôi con. Nay ly hôn, anh yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu chị Thảo cấp dưỡng. Vì hiện tại chị Thảo đang nợ nần, đi làm công nhân ở xa. Còn anh có đủ điểu kiện mọi mặt để nuôi con.

Về tài sản chung và khoản nợ chung: Anh và chị Thảo tự thỏa thuận giải quyết với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại đơn đề nghị giải quyết vắng mặt gửi cho Tòa án qua đường bưu điện, bị đơn chị Lương Phương Th trình bày:

Về hôn nhân: Về ngày tháng năm, địa điểm đăng ký kết hôn đúng như anh Ngô Trí Th trình bày. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình, quan điểm hai vợ chồng không hợp nhau. Hai vợ chồng đã ly thân hai nơi, không còn quan tâm, chăm sóc nhau. Nay chị không còn tình cảm với anh Thái nên đồng ý ly hôn.

Về con chung: Chị và anh Thái có 01 con chung là Ngô Trí D, sinh ngày 19/6/2021. Ly hôn, chị nhường con chung cho anh Thái trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về tài sản chung và khoản nợ chung: Chị có một số tài sản là của hồi môn từ bên ngoại và một số khoản nợ chung với anh Thái. Ly hôn, chị và anh Thái tự thỏa thuận về tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N Đ, tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, điều tra thu thập chứng cứ, tống đạt văn bản tố tụng đúng quy định; việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, các đương sự thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 19, 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, 271 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

- Về hôn nhân: Anh Ngô Trí Th được ly hôn với chị Lương Phương Th.

- Về con chung: Giao con chung Ngô Trí D, sinh ngày 19/6/2021 cho anh Ngô Trí Th được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Thảo do anh Thái không yêu cầu.

- Về tài sản chung và khoản nợ chung: Anh Ngô Trí Th và chị Lương Phương Th tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

- Về án phí: Nguyên đơn anh Ngô Trí Th phải chịu án phí sơ thẩm về ly hôn quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

1.1. Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn anh Ngô Trí Th yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với chị Lương Phương Th có nơi thường trú tại xã NA, huyện N Đ, tỉnh Nghệ An. Đây là tranh chấp hôn nhân gia đình về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện N Đ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

1.2. Về việc vắng mặt của các đương sự: Bị đơn chị Lương Phương Th đã nhận được các văn bản tố tụng nhưng do bận công việc ở xa nên đã làm đơn xin giải quyết vắng mặt đồng thời tự nguyện trình bày ý kiến tại đơn giải quyết vắng mặt gửi bằng đường bưu điện cho Tòa án. Tại phiên tòa, cả nguyên đơn và bị đơn đều có đơn giải quyết vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt là đúng quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Ngô Trí Th và chị Lương Phương Th tự nguyện kết hôn sau một thời gian tìm hiểu, kết hôn đúng điều kiện, nơi đăng ký kết hôn tại UBND xã Lĩnh Sơn, huyện A S, tỉnh Nghệ An vào ngày 16/7/2020 theo giấy chứng nhận kết hôn số 28/2020 nên đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ, phát sinh quyền nghĩa vụ vợ chồng.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống được hơn một năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình, lối sống, quan điểm hai người không hợp nhau. Chị Thảo kinh doanh, buôn bán thua lỗ nên lâm vào cảnh nợ nần từ đó vợ chồng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Chị Thảo đi làm công nhân tại tỉnh Đồng Nai, anh Thái và con trai ở nhà cùng nhau. Hai vợ chồng đã ly thân, thừa nhận không còn tình cảm, không yêu thương chăm sóc nhau, điều này là vi phạm quyền và nghĩa vụ của vợ chồng. Anh Thái yêu cầu được ly hôn và chị Thảo tự nguyện đồng ý. Xét thấy, hôn nhân giữa anh Thái và chị Thảo đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần cho anh Ngô Trí Th được ly hôn với chị Lương Phương Th.

Về con chung: Anh Ngô Trí Th và chị Lương Phương Th có 01 con chung: Ngô Trí D, sinh ngày 19/6/2021. Ly hôn, anh Thái yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung. Chị Thảo đồng ý. Xét thấy: Nguyện vọng của anh Thái là hoàn toàn chính đáng, ý kiến nhường quyền nuôi con của chị Thảo là tự nguyện. Mặt khác, trên thực tế cháu Duy đã ở với anh Thái và gia đình bên nội từ lâu nay. Hiện tại chị Thảo đang đi làm công nhân xa, anh Thái có đủ điều kiện về mọi mặt để nuôi con nên cần tiếp tục giao con chung cho anh Thái được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp, tránh xáo trộn cuộc sống của cháu.

Chị Thảo có quyền, nghĩa vụ chăm sóc con chung không ai được cản trở.

Trường hợp anh Thái nuôi con không đảm bảo quyền, lợi ích của con mà chị Thảo có căn cứ chứng minh thì có quyền làm đơn thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn. Trường hợp chị Thảo lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì anh Thái có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con.

Đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con: Do anh Thái không có yêu cầu chị Thảo cấp dưỡng nên hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng. Trường hợp có đơn yêu cầu cấp dưỡng thì Tòa án sẽ xem xét giải quyết bằng một vụ án khác.

Về tài sản chung và khoản nợ chung: Nguyên đơn anh Ngô Trí Th và bị đơn chị Lương Phương Th tự thỏa thuận với nhau, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Anh Ngô Trí Th phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định của pháp luật.

Các đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về việc giải quyết toàn bộ vụ án là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 19, 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147, 207, 228, 271 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Ngô Trí Th.

1. Về hôn nhân: Anh Ngô Trí Th được ly hôn với chị Lương Phương Th.

2. Về con chung: Giao con chung Ngô Trí D, sinh ngày 19/6/2021 cho anh Ngô Trí Th được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Lương Phương Th do anh Ngô Trí Th không yêu cầu.

Chị Lương Phương Th có quyền đi lại thăm nom và chăm sóc con chung, không ai được cản trở.

Trường hợp anh Thái nuôi con không đảm bảo quyền, lợi ích của con mà chị Thảo có căn cứ chứng minh thì có quyền làm đơn thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn. Trường hợp chị Thảo lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì anh Thái có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con.

3. Về án phí: Anh Ngô Trí Th phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0004807 ngày 02/11/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện N Đ, tỉnh Nghệ An.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn đều vắng mặt, có quyền kháng cáo đến Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ