- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân gia đình sơ thẩm"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 51và khoản 1 Điều 56 các Điều 57, 58, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BUÔN ĐÔN TỈNH ĐĂKLĂK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2023/HNGĐ-ST. Ngày 10 tháng 01 năm 2023. V/v: “Tranh chấp ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BUÔN ĐÔN -TỈNH ĐẮK LẮK
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- chủ toạ phiên toà: Ông Huỳnh Định Tình.
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Lam Điền
2. Bà H’Bon Du
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quỳnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Buôn Đôn.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Buôn Đôn tham gia phiên tòa: Ông Y Rin Niê Kđăm– Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 01 năm 2023, tại Hội trường Toà án nhân dân huyện Buôn Đôn mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 180/2022/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2022, về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung sau ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2022/QĐXX-ST ngày 14 tháng 12 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 01/2022/QĐ-HPT ngày 30/12/2022, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị H’Nh- sinh năm 1990.(có mặt)
Địa chỉ: Buôn J, xã Ea, huyện B, tỉnh Đắk Lắk.
Bị đơn: Anh Lê Đắc L - sinh năm 1972. (vắng mặt)
Địa chỉ: Buôn J, xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 15/09/2022, bản tự khai và tại phiên toà hôm nay, nguyên đơn chị H’Nh trình bày:
Chị và anh Lê Đắc L cưới hỏi theo phong tục, chung sống từ năm 2007 và tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 01/12/2007, tại Ủy ban nhân dân xã Ea Huar, huyện Buôn Đôn theo quy định pháp luật. Trong quá trình chung sống thời gian đầu hai vợ chồng sống hạnh phúc nhưng khoảng thời gian gần đây thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn dẫn đến thường xuyên cãi vã, bất hòa. Nguyên nhân là do vợ chồng không hợp, hay bất đồng quan điểm, hiện nay đã sống ly thân.
Nay xét thấy tình cảm vợ chồng với anh L là không còn hạnh phúc, không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể duy trì. Chị H’Nh đề nghị được ly hôn với anh L.
- Về con chung: Có 01 con chung là cháu Lê Thị Pi N – sinh ngày 13/03/2008, hiện nay cháu khỏe mạnh, phát triển bình thường. Chị nhận trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung cho đến khi cháu thành niên (đủ18 tuổi) theo nguyện vọng của con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H’Nh không yêu cầu tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Quá trình chung sống hai vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn anh Lê Đắc L mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án số: 180/TB-TLVA, ngày 03/10/2022. Nhưng không có ý kiến bằng văn bản gửi Tòa án nhân dân huyện Buôn Đôn, cũng không có yêu cầu phản tố. Ngoài ra,Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải số: 01/TB-TA, ngày 08/11/2022; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải số: 02/TB-TA, ngày 23/11/2022. Tuy nhiên, anh Lợi vắng mặt không có lý do, nên không thể tiến hành hòa giải được, cũng không có ý kiến gì liên quan đến chứng cứ do nguyên đơn cung cấp.
Quá trình thu thập chứng cứ để làm căn cứ giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Buôn Đôn đã tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân của chị H’Nh và anh Lê Đắc L tại Hội phụ nữ xã Ea Huar, huyện Buôn Đôn. Qua xác minh tại địa phương thì được biết vợ chồng chị H’Nhvà anh Lợi có mâu thuẫn với nhau. Anh Lê Đắc L sống ly thân với chị H’Nh về nhà bố mẹ đẻ ở Thôn 15, xã Tân Hòa, huyện Buôn Đôn sinh sống. Tòa án huyện Buôn Đôn đã tiến hành công khai chứng cứ và hòa giải, phân tích các quy định của pháp luật nhưng chị H’Nh vẫn nhất quyết xin được ly hôn với anh Lê Đắc L nên hoà giải không thành. Do đó căn cứ Điều 203 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Buôn Đôn đưa vụ án ra xét xử.
Tại phần tranh luận nguyên đơn chị H’Nh giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, chị cho rằng mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng đã sống ly thân từ cuối năm 2017 cho đến nay, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Đắc L, sau khi ly hôn chị nhận nuôi con chung là Lê Thị Pi N – sinh ngày 13/03/2008. Về tài sản chung không có và không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
+ Về việ c tuân theo phá p luậ t tố tụ ng:
Trong quá trì nh giả i quyế t vụ á n việ c tuân theo phá p luậ t tố tụ ng c ủa Thẩ m phán, Hộ i đồ ng xé t xử ; Việ c chấ p hà nh phá p luậ t củ a ngườ i tham gia tố tụ ng dân sự , kể từ khi thụ lý vụ á n cho đế n trướ c thờ i điể m Hộ i đồ ng xé t xử vào nghị á n đề u tuân thủ đúng quy định của pháp luật.
+ Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 8 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 58, Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị H’Nh.
- Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Chị H’Nh được ly hôn với anh Lê Đắc L
Về con chung: Giao con chung là cháu Lê Thị Pi N – sinh ngày 13/03/2008 cho chị H’Nh trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi) và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con là phù hợp cần chấp nhận.
Về tài sản chung, nợ chung không có, đương sự không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.
Về án phí: Chị H’Nh phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng công khai trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ kiện, ý kiến của Kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Tại phiên toà hôm nay, bị đơn anh Lê Đắc L vắng mặt lần thứ 02 không có lý do chính đáng, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Tòa án nhận thấy chị H’Nh và anh Lê Đắc L chung sống với nhau trên tinh thần tình yêu tự nguyện từ năm 2007, không bị ai ép buộc, được hai bên gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Ea Huar, huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk ngày 01/12/2007. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc nhưng đến đầu năm 2017 thì xảy ra nhiều mâu thuẫn, cãi nhau, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, dẫn đến gia đình không hạnh phúc. Qua xác minh tại chính quyền địa phương nơi chị H’Nh công tác và được Hội phụ nữ xã Ea Huar cho biết chị H’Nh và anh L hai người đã sống ly thân, anh L về nhà bố mẹ đẻ ở Thôn 15, xã Tân Hòa, huyện Buôn Đôn sinh sống nhiều năm nay. Quá trình giải quyết tại Tòa án chị H’Nh kiên quyết ly hôn với anh Lê Đắc L, điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị H’Nh và anh L đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu cứ kéo dài hôn nhân của các bên cũng không thể mang lại hạnh phúc cho nhau. Căn cứ vào khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H’Nh, xử cho chị H’Nh được ly hôn với anh Lê Đắc L là phù hợp.
Về con chung: Chị H’Nh có nguyện vọng nhận nuôi con chung sau ly hôn, anh Lợi vắng mặt tại phiên tòa do đó cần giao con chung là cháu Lê Thị Pi N – sinh ngày 13/03/2008 cho chị H’Nh trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi) và chị H’Nh không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Do không có, đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 4 Điều 147, Điều 203 và điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng: Khoản 1 Điều 51và khoản 1 Điều 56 các Điều 57, 58, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị H’Nh.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị H’Nh được ly hôn với anh Lê Đắc L.
2. Về nuôi con chung: Giao con chung là Lê Thị Pi N – sinh ngày 13/03/2008, cho chị H’Nh trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi).
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H’Nh không có yêu cầu nên không đề cập giải quyết.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con mà không ai được cản trở và không lạm dụng việc thăm non để cản trở hoặc gây ảnh hưởng đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Về án phí: Chị H’Nh phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Buôn Đôn theo biên lai thu số 0019097 ngày 03/10/2022 .
4. Quyền kháng cáo: Chị H’Nh có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn anh Lê Đắc L vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định.
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk; - THADS huyện Buôn Đôn; - VKS huỵên Buôn Đôn; - UBND xã Ea Huar; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (đã ký) Huỳnh Định Tình |