vanban.org

Bản án 01/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Huyền N.

Buộc anh Vũ Bá N phải cấp dưỡng nuôihai con chung là cháu Vũ Trí H sinh ngày 11 tháng 12 năm 2011 và cháu Vũ Trí A sinh ngày 10 tháng 12 năm 2015, mức cấp dưỡng hàng tháng cho mỗi con là 2.500.000 đồng, thời điểm thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng kể từ tháng 01 năm 2023 đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị Huyền N và Vũ Bá N"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Huyền N.
  • Căn cứ chính? Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 108 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN LÃO
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2023/HNGĐ-ST
Ngày 05-01-2023
V/v tranh chấp cấp dưỡng nuôi con
chung sau khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN LÃO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Duyến.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Thắng

Ông Vũ Văn Thôn.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Gấm - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Phan Xuân Quang - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 96/2022/TLST-HNGĐ, ngày 07 tháng 10 năm 2022 về việc: “ Tranh chấp cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1004/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 12 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Huyền N nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, huyện A, thành phố Hải Phòng, có mặt.

- Bị đơn: Anh Vũ Bá N nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Đ, xã H, huyện A, thành phố Hải Phòng; nơi ở: Lữ Đoàn A, Vùng H, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 03 tháng 10 năm 2022 về việc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn, nguyên đơn là chị Lê Thị Huyền N trình bày: Theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 01/2021/QĐST- HNGĐ ngày 04 tháng 01 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng, chị Lê Thị Huyền N và anh Vũ Bá N đã thuận tình ly hôn. Đồng thời chị N là người trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là Vũ Trí H sinh ngày 11 tháng 12 năm 2011 và Vũ Trí A sinh ngày 10 tháng 12 năm 2015 đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh N. Nay chị N đề nghị Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng buộc anh N cấp dưỡng cho con Vũ Trí H và Vũ Trí A, mỗi tháng là 5.000.000 đồng đến khi con đủ 18 tuổi.

Ngày 02 tháng 12 năm 2022, chị N có bản tự khai đề nghị Tòa án buộc anh N cấp dưỡng nuôi con chung với mức 5.000.000 đồng/tháng đốivới cháu Vũ Trí A sinh ngày 10 tháng 12 năm 2015 đến khi con đủ 18 tuổi.

Ngày 06 tháng 12 năm 2022, chị N có bản tự khai làm rõ thêm về yêu cầu khởi kiện, theo đó chị N đề nghị anh N cấp dưỡng nuôi con chung với mức yêu cầu mỗi tháng cho một con là 5.000.000 đồng đến khi con đủ 18 tuổi.

Ý kiến của bị đơn, anh Vũ Bá N không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của chị N, không đồng ý cấp dưỡng nuôi con chung với lý do anh N sẽ thay đổi người trực tiếp nuôi con chung, mỗi người nuôi 01 con để không ai phải cấp dưỡng nuôi con cho ai. Ngày 03 tháng 01 năm 2023, anh N có đơn đề nghị gửi Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng với nội dung đề nghị được nuôi01 con chung.

Tài liệu do Tòa án thu thập, xác minh: Đơn vị nơi anh Vũ Bá N công tác cung cấp mức lương hàng tháng hiện tại của anh N là 11.790.000 đồng. Chị N cung cấp tài liệu thể hiện mức lương hiện tại hàng tháng của chị N là 10.500.000 đồng.

Tại phiên tòa, chị N nêu chi phí nuôi dạy con chung với mức trung bình mỗi tháng cho một con khoảng 7.000.000đồng. Chị N đề nghị anh N phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho mỗi con chung 5.000.000 đồng/1 tháng đến khi con đủ 18 tuổi. Anh N giữ nguyên ý kiến không đồng ý cấp dưỡng nuôi con chung và xin nuôi 01 con để không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cho ai.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng tại phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn, bị đơn đều đã thực hiện đúng và đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại các điều 70, 71, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ vào khoản 5 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 69, 70, 71, 81, 82, 83, 107, 108, 110, 116, 117, 119 của Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc anh N phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho mỗi con chung là 2.500.000đồng/1 tháng. Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, buộc anh N phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật có tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị N có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án buộc anh N phải cấp dưỡng nuôicon chung sau khi ly hôn, đây là một trong những tranh chấp về hôn nhân và gia đình mà cụ thể là "Tranh chấp về cấp dưỡng" thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 5 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh N là bị đơn trong vụ án, công tác và có nơi ở tại xã An Thắng, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Lão theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc anh N có đơn đề nghị thay đổingười trực tiếp nuôi con sau ly hôn vào ngày 03 tháng 01 năm 2023, là thời điểm sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử và sau khi đã có Thông báo về phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nên theo quy định tại khoản 1 Điều 199 và khoản 3 Điều 200 của Bộ luật Tố tụng dân sự, yêu cầu này của anh N không được thụ lý để giải quyết trong cùng vụ án. Nếu anh N có đề nghị thì phải khởi kiện thành vụ án khác theo quy định của pháp luật.

- Về nội dung:

Về con chung: Chị N và anh N có 02 con chung là cháu Vũ Trí H sinh ngày 11 tháng 12 năm 2011 và Vũ Trí A sinh ngày 10 tháng 12 năm 2015. Theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 01/2021/QĐST- HNGĐ ngày 04 tháng 01 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng, chị N là người trực tiếp nuôi dưỡng 02 con đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh N. Nay chị N đề nghị Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng buộc anh N thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng đối với các con chung. Theo quy định tại các điều 69, 70, 71, 81, 82, 83, 107, 108, 110, 116, 117, 119 của Luật Hôn nhân và gia đình, anh N phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho các con chung. Do vậy yêu cầu khởi kiện của chị N là có cơ sở và cần được chấp nhận.

Về mức cấp dưỡng: Căn cứ vào thu nhập thực tế, mức lương hàng tháng hiện tại của anh N là 11.790.000 đồng và của chị N là 10.500.000 đồng. Xem xét chi phí học tập, sinh hoạt thiết yếu cho mỗi con khoảng 2.500.000 đồng/1 tháng là phù hợp với điều kiện thực tế của các bên và đảm bảo được quyền lợi cơ bản của các con. Do vậy cần buộc anh N phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi mỗi con chung hàng tháng là 2.500.000 đồng, thời điểm thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng kể từ tháng 01 năm 2023 đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Các nội dung khác, chị N và anh N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị N là nguyên đơn khởi kiện đề nghị anh N cấp dưỡng nuôi con chung và chị N đã có đơn đề nghị miễn nộp toàn bộ tạm ứng án phí, án phí dân sự sơ thẩm nên được miễn án phí theo quy định điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Anh N phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và khoản 5 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quyền kháng cáo: Chị N và anh N được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 5 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 5 Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các điều 69, 70, 71, 81, 82, 83, 107, 108, 110, 116, 117, 119 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 12 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Huyền N.

1. Buộc anh Vũ Bá N phải cấp dưỡng nuôihai con chung là cháu Vũ Trí H sinh ngày 11 tháng 12 năm 2011 và cháu Vũ Trí A sinh ngày 10 tháng 12 năm 2015, mức cấp dưỡng hàng tháng cho mỗi con là 2.500.000 đồng, thời điểm thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng kể từ tháng 01 năm 2023 đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

2. Về quyền thi hành án: Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án đối với khoản tiền trên mà người phải thi hành án chưa thi hành thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian và số tiền chưa thi hành án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3. Về án phí: Anh Vũ Bá N phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo bản án: Chị Lê Thị Huyền N và anh Vũ Bá N có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ