- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn và nuôi con"
- Tòa quyết gì? Công nhận sự thỏa thuận của chị Đặng Thị Mỹ D và anh Nguyễn Thái H. Sửa Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 32/2022/HNGĐ-ST ngày 07 -11 - 2022 của Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” giữa nguyên đơn chị Đặng Thị Mỹ D với bị đ…
- Căn cứ chính? Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2023/HNGĐ-PT Ngày 11/01/2023 V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sinh
Các Thẩm phán: Ông Hà Viết Toàn và bà Đinh Thị Như Phượng
Thư ký phiên tòa:Bà Thái Thị Mỹ Nga-Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 01 năm 2023, tại Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 21/2022/TLPT-HNGĐ ngày 14 tháng 12 năm 2022 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”.
Do bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 32/2022/HNGĐ-ST ngày 07 -11 - 2022 của Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 43/2022/QĐ-PT ngày 29 tháng 12 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đặng Thị Mỹ D; địa chỉ: T, phường I, thành phố P, tỉnh G. Có mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Thái H; địa chỉ: số A đường H, thị trấn I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
Người kháng cáo: Bị đơn anh Nguyễn Thái H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1.1. Nguyên đơn chị Đặng Thị Mỹ D trình bày:
- Về hôn nhân: Chị Đặng Thị Mỹ D và anh Nguyễn Thái H kết hôn tự nguyện, đăng ký kết hôn vào ngày 14 tháng 01 năm 2021, tại Ủy ban nhân dân thị trấn I, huyện I, tỉnh G. Sau khi kết hôn, chị D và anh H cùng nhau chung sống tại nhà bố mẹ ruột của anh H ở thị trấn I, huyện I, tỉnh G. Cuộc sống hôn nhân hòa thuận, hạnh phúc. Đến tháng 10 năm 2021, sau thời gian chị D về nhà cha, mẹ ruột để sinh con thì anh H đón chị D cùng các con về lại nhà cha, mẹ của anh H, sống được khoảng 04 tháng thì anh H có xảy ra mâu thuẫn với gia đình nên đã đưa chị D cùng các con về lại nhà cha, mẹ ruột của chị D tại thành phố P, tỉnh G.
Sống chỉ được một thời gian ngắn thì anh H lại xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau với cha, mẹ ruột của chị D, nên từ ngày 21/3/2022, anh H tự ra ngoài thuê phòng trọ sinh sống riêng, không đi làm và mượn tiền của nhiều người dẫn đến nợ nần. Trong thời gian này, chị D có mang đồ đạc, quần áo đến cho anh H và khuyên anh H trở về nhà nhưng anh H không đồng ý. Đến khoảng tháng 6 năm 2022, anh H có tìm gặp chị D và yêu cầu chị D chuyển ra ngoài sống chung cùng anh H nhưng chị D không đồng ý do các con còn nhỏ, chị D và anh H đều chưa có việc làm ổn định. Anh H bực tức nên đã đập điện thoại, đe dọa chị D và yêu cầu được đưa con của mình đi vì cho rằng anh H là bố nên có quyền quyết định. Sau đó, anh H đưa cháu Nguyễn Tuấn K, sinh ngày 07/8/2021 về nhà cha, mẹ của anh H. Khoảng gần 01 tháng sau, anh H chở cháu Nguyễn Tuấn K xuống gặp chị D và nói muốn đưa cháu Nguyễn Gia K đi chơi nhưng sau đó anh H đã chở cả 02 con về nhà cha, mẹ của anh H cho đến nay. Chị D nhiều lần gọi điện thoại yêu cầu anh H phải giao con nhưng anh H không đồng ý và yêu cầu chị D phải về nhà cha, mẹ ruột của anh H nhưng chị D không đồng ý nên vợ chồng xảy ra mâu thuẫn trầm trọng. Nay chị D đề nghị giải quyết cho chị D được ly hôn với anh Nguyễn Thái H.
- Về con chung: Chị Đặng Thị Mỹ D và anh Nguyễn Thái H có 02 con chung là cháu Nguyễn Gia K và cháu Nguyễn Tuấn K, cùng sinh ngày 07/8/2021 chị D yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cả 02 con, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
1.2. Bị đơn là anh Nguyễn Thái H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Thái H xác nhận về tình trạng hôn nhân mà chị D đã anh trình bày là đúng. Tuy nhiên, trong cuộc sống do có lúc bản tính nóng nảy nên anh H có sự bất hòa với ba, mẹ hai bên nên từ đó giữa anh H và chị D bắt đầu nảy sinh nhiều xung đột, mâu thuẫn do bất đồng quan điểm. Trong lúc nóng giận anh H có đập điện thoại của chị D và to tiếng nhưng không đe dọa ai. Anh H không có nợ tiền của nhiều người như chị D trình bày. Việc anh H đưa các con về nhà cha, mẹ ruột đã báo cho chị D và sau đó anh cũng nhiều lần đưa con đến gặp chị D. Từ tháng 3 năm 2022 cho đến nay, anh và chị D không còn chung sống với nhau. Sau những mâu thuẫn xảy ra, anh H mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng nên cũng đã nhiều lần đề nghị chị D về chung sống nhưng chị D không đồng ý. Hiện tại giữa anh H và chị D không tìm được tiếng nói chung, anh H không còn tình cảm với chị D nên đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị D.
- Về con chung: Anh H không đồng ý với yêu cầu của chị D về việc giao cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng. Anh H đủ điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên nên đề nghị giải quyết cho anh H được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Nguyễn Tuấn K và cháu Nguyễn Gia K, cùng sinh ngày 07/8/2021 cho đến khi đủ 18 tuổi, anh H không yêu cầu chị D cấp dưỡng nuôi con.
2. Giải quyết của tòa án cấp sơ thẩm:
Tại bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 32/2022/HNGĐ-ST ngày 07 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai đã quyết định:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 227; Điều 147; Điều 244; Điều 246; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; Điều 55; khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị Mỹ D.
- Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Đặng Thị Mỹ D và anh Nguyễn Thái H.
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Tuấn K, sinh ngày 07/8/2021 và cháu Nguyễn Gia K, sinh ngày 07/8/2021 cho chị Đặng Thị Mỹ D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình.
Chị Đặng Thị Mỹ D và anh Nguyễn Thái H đều có quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với con chung. Bên trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Khi cần thiết, các bên đều có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
3. Về kháng cáo, kháng nghị:
Ngày 17 tháng 11 năm 2022, bị đơn là anh Nguyễn Thái H có đơn kháng cáo đề nghị giải quyết giao cho anh trực tiếp nuôi dưỡng các con chung và không yêu cầu chị Đặng Thị Mỹ D cấp dưỡng nuôi con.
- Nguyên đơn là chị Đặng Thị Mỹ D không kháng cáo.
- Bản án không bị kháng nghị.
4. Diễn biến tại phiên tòa:
- Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Đặng Thị Mỹ D và bị đơn anh Nguyễn Thái H đã tự thống nhất thỏa thuận được với nhau về việc nuôi con chung và đề nghị Hội đồng xét xử giao cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Gia K, sinh ngày 07/8/2021, còn anh H trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Tuấn K, sinh ngày 07/8/2021. Chị D và anh H không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Ý kiến của Kiểm sát viên: Về chấp hành pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng qui định pháp luật tố tụng.
Về nội dung vụ án: Các đương sự tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm công nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự sửa Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 32/2022/HNGĐ-ST ngày 07 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai về phần nuôi con chung.
NHẬN ĐỊNH TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý giải quyết đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật, xác định đầy đủ tư cách của những người tham gia tố tụng.
[2] Xét nội dung kháng cáo của bị đơn anh Nguyễn Thái H.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn chị Đặng Thị Mỹ D và bị đơn anh Nguyễn Thái H đã tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ nội dung kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận về việc nuôi con, giao chị D trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Gia K, sinh ngày 07/8/2021; giao cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Tuấn K, sinh ngày 07/8/2021. Chị D và anh H không phải cấp dưỡng nuôi con.
Xét thấy việc thỏa thuận của các bên là phù hợp với quy định pháp luật, không trái đạo đức xã hội, bảo đảm quyền và lợi ích của các con chung. Do đó cần sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các bên đương sự về việc nuôi con.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: Các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa phúc thẩm do đó anh Nguyễn Thái H phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án;
1. Công nhận sự thỏa thuận của chị Đặng Thị Mỹ D và anh Nguyễn Thái H. Sửa Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 32/2022/HNGĐ-ST ngày 07 -11 - 2022 của Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” giữa nguyên đơn chị Đặng Thị Mỹ D với bị đơn là anh Nguyễn Thái H về phần nuôi con chung.
Giao cho chị Đặng Thị Mỹ D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Gia K, sinh ngày 07/8/2021 và Giao cho anh Nguyễn Thái H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Tuấn K, sinh ngày 07/8/2021, cho đến khi con thành niên, đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng cho con.
2. Anh Nguyễn Thái H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008745 ngày 01 tháng 12 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai. Anh H đã nộp đủ tiền án phí phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận : - VKSND tỉnh Gia Lai; - VKSND huyện Ia Grai; - TAND huyện Ia Grai; - Chi cục THADS huyện Ia Grai; - Các đương sự; - Lưu Tòa GĐ&NCTN, HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Sinh |