- Tranh chấp gì? án hình sự — "cố ý gây thương tích - phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trong khi thi hành công vụ (điều 107 Bộ luật…"
- Tòa quyết gì? hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H, sửa bản án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 01/2023/GĐ&NCTN-HSPT Ngày: 13/12/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Tuyết Mai; Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hữu Minh Ông Nguyễn Văn Tính Thư ký phiên toà: Ông Chu Quang Duy, Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà: Ông Đinh Văn Bình, Kiểm sát viên. Ngày 13 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 05/2023/TLPT-HSNCTN ngày 07 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2023/QĐXXPT-HS ngày 29 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo: Nguyễn Văn H, sinh năm 1993; HKTT: Khu phố ĐT, phường TK, thị xã TT, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn Việt và bà Nguyễn Thị H; Vợ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1995; Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa. *Bị hại: Cháu Nguyễn Hoàng Nhật Anh, sinh ngày 27/01/2008. HKTT: Khu phố Đại Tự, phường T Khương, thị xã Thuận THnh, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt; Người đại diện của bị hại: Chị Hoàng Thị T T, sinh năm 1984. HKTT: Khu phố ĐT, phường TK, thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh (là mẹ đẻ của bị hại). Có mặt; *Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Hoàng Thị T T, sinh năm 1984. HKTT: Khu phố ĐT, phường TK, thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn H, là bảo vệ chợ ngã tư Dâu thuộc địa phận khu phố TT, phường TQ, thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Ngày 02/4/2023, Ban quản lý chợ giao cho H nhiệm vụ đi thu tiền điện, nước, vệ sinh và tiền đảm bảo an ninh trật tự của các hộ kinh doanh trong chợ. Khoảng 16 giờ 30 ngày 02/4/2023, tại khu vực vỉa hè trước kiốt của chị Hoàng Thị T T ở chợ đầu mối Dâu thuộc địa phận phường TQ, thị xã TT, tỉnh Bắc Ninh. Do có mâu thuẫn về việc thu tiền đảm bảo an ninh trật tự giữa chị T với H dẫn đến việc xô xát, đánh nhau giữa H với chị T và cháu Nguyễn Hoàng NA, sinh ngày 27/01/2008 (15 tuổi 2 tháng 06 ngày). H đã có Hnh vi dùng tay dùng tay trái gạt ngang trúng vào mặt của cháu NA rồi tiếp tục dùng tay pH đấm một cái trúng vào phần mặt bên trái của cháu NA làm cháu Nhật Anh bị thương tích rách da, chảy máu, sưng nề ở mũi, mắt trái và miệng. Hậu quả, cháu Nhật Anh bị thương tích tổn hại 7% sức khỏe. Về thương tích của H: Theo biên bản làm việc xác định thương tích ngày 04/4/2023 tại Trạm y tế phường T Khương, H có 01 vết sưng ở đỉnh đầu pH, 01 vết sưng ở đỉnh đầu trái mỗi vết kích thước khoảng (3x3) cm, không rách da chảy máu. H trình bày do thương tích nhẹ, nay đã bình phục hoàn toàn nên không có đề nghị gì đối với những thương tích này. Số tài sản bị hư hỏng tại ki ốt của chị T gồm: 08 ma nơ canh nữ loại móc treo bằng nhựa, 02 mũ bảo hiểm Bktec không kính, 03 mũ bảo hiểm Bktec có kính, 04 mũ bảo hiểm nhãn hiệu Helmet có kính, 02 mũ bảo hiểm thời trang SHp 3 lớp, 07 mũ bảo hiểm thời trang Kily có tổng giá trị là 1.165.000 đồng. Với nội dung vụ án như trên, Bản án số 69/2023/HSST ngày 28/9/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Thuận T, tỉnh Bắc Ninh đã xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Nguyễn Văn H 07 (Bẩy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi Hnh án. Trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, 585, 587, 590 Bộ luật dân sự; Điều 48 Bộ luật hình sự: Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải có trách nhiệm bồi thường thương tích cho cháu Nguyễn Hoàng NA do chị Hoàng Thị T T là người đại diện hợp pháp số tiền 57.200.000 đồng (Năm mươi bẩy triệu hai trăm nghìn đồng) (đã làm tròn); Bồi thường cho chị Hoàng Thị T T số tiền 1.806.000 đồng (Một triệu tám trăm linh sáu nghìn đồng). Xác nhận Nguyễn Văn H đã nộp số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) tại Biên lai thu số AA/2021/0004375 ngày 25/9/2023 tại Chi cục thi Hnh án thị xã Thuận THnh để bồi thường cho cháu Nguyễn Hoàng Nhật Anh. Bị cáo Nguyễn Văn H pH tiếp tục bồi thường cho cháu Nguyễn Hoàng NA do chị Hoàng Thị T T là người đại diện hợp pháp số tiền còn lại là 27.200.000 đồng
(Hai mươi bẩy triệu hai trăm nghìn đồng); Bồi thường cho chị Hoàng Thị T T số tiền 1.806.000 đồng (Một triệu tám trăm linh sáu nghìn đồng). Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về việc xử lý vật chứng, án phí, nghĩa vụ thi Hnh án và quyền kháng cáo của người tham gia tố tụng. Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 05/9/2023 bị cáo Nguyễn Văn H kháng cáo đề nghị được hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn H vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Bị cáo nhận tội; bản án xét xử đúng người, đúng tội, không oan. Song, các bị cáo cho rằng Bản án cấp sơ thẩm đã xử phạt là nặng và đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo. Trên sơ sở phân tích tính chất nguy hiểm cho xã hội do Hnh vi phạm tội của bị cáo gây nên, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điều 355, 357 Bộ luật tố tụng hình sự chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H; sửa bản án sơ thẩm, giữ nguyên hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về tố tụng: Hnh vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến Hnh tố tụng: Đã thực hiện đúng theo quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo và đại diện người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về Hnh vi, quyết định của các cơ quan tiến Hnh tố tụng. Vậy các Hnh vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến Hnh tố tụng, người tiến Hnh tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H trong thời hạn luật định, nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm. [2] Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H, Hội đồng xét xử thấy: Hnh vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự an ninh xã hội tại địa phương. Đây là vụ án có tính chất ít nghiêm trọng nhưng Hnh vi của bị cáo thể hiện sự coi thường đối với sức khỏe của người khác, coi thường pháp luật, gây ảnh hưởng đến thể chất, tinh thần và sự phát triển của trẻ em nên cần pH có hình phạt nghiêm khắc đủ giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung. Song xét thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Sau khi phạm tội tHnh khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tại cấp phúc thẩm bị cáo xuất trình hóa đơn nộp tiền khắc phục toàn bộ
thiệt hại theo bản án sơ thẩm và giấy xác nhận có bà nội được Huân chương kháng chiến hạng nhì nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy, không cần thiết pH cách ly bị cáo khỏi xã hội cũng đủ giáo dục các bị cáo trở tHnh người có ích cho xã hội. Từ những phân tích trên, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H, sửa bản án sơ thẩm giữ nguyên hình phạt và cho Nguyễn Văn H được hưởng án treo. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét. Án phí: Do kháng cáo được chấp nhận, bị cáo Nguyễn Văn H không pH chịu án phí hình sự phúc thẩm. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H, sửa bản án sơ thẩm. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Nguyễn Văn H 07 (bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 14 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Văn H cho UBND phường T Khương, thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi Hnh án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó pH chấp Hnh hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi Hnh án hình sự. 2. Án phí: Nguyễn Văn H không pH chịu án phí hình sự phúc thẩm. 3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận: - TAND cấp cao; - VKSND tỉnh Bắc Ninh; - TAND tx Thuận THnh; - Bị cáo; người TGTT khác; - Lưu HS, VP. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tuyết Mai |