vanban.org

Bản án 01/2023/DS-ST — Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn Đ.

Buộc ông Huỳnh Văn H phải trả cho ông Trần Văn Đ số tiền 170.000.000 đồng. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản — án dân sự — "Tranh chấp đòi tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166 Bộ luật Dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ CAI LẬY
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2023/DS-ST
Ngày: 12-01-2023
V/v tranh chấp “Đòi tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Hằng Ni.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Văn Tám.

Bà Huỳnh Thị Như Thủy.

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Lê Lộc – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

Trong ngày 12 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý: 282/2022/TLST-DS ngày 30 tháng 11 năm 2022 về việc: “Tranh chấp đòi tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 156/2022/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Trần Văn Đ, sinh năm 1968 (có mặt).

Địa chỉ:ẤpTS,xãTH, thịxã CaiLậy,tỉnhTiền Giang.

- Bị đơn: Ông Huỳnh Văn H, sinh năm 1973 (có mặt).

Địa chỉ:ẤpKinh 12, xãMPT,thịxãCaiLậy,tỉnhTiềnGiang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Trần Văn Đ trình bày: Do chỗ quen biết, ông làm nhà máy xay lúa còn ông H là bạn hàng xay lúa nên vào năm 2018 ông có cho ông H mượn số tiền 170.000.000 đồng để đi mua lúa về xay ở nhà máy của ông, việc này có làm biên nhận do ông viết, ông H kí tên ghi họ tên. Khi viết biên nhận, ông H có hứa khi nào ông cần tiền thì ông sẽ trả lại. Sau đó, cũng trong ngày 29/12/2018 ông H viết cam kết hứa với ông, tới mùa Đông Xuân sẽ trả trước cho ông 20.000.000 đồng. Tuy nhiên, đến khi ông cần tiền và đòi rất nhiều lần thì ông H cứ hứa hẹn mà không thực hiện. Vì vậy, nay ông khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông Huỳnh Văn H phải trả lại cho ông 170.000.000 đồng, trả làm 01 lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật.

Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Huỳnh Văn H trình bày: Ông có nợ ông Trần Văn Đ 170.000.000 đồng như ông Đtrình bày. Nay đối với yêu cầu khởi kiện của ông Đức, ông có ý kiến như sau: Đồng ý trả cho ông Đ 170.000.000 đồng nhưng xin trả dần, mỗi năm trả 5.000.000 đồng cho đến khi hết nợ do đang thiếu nợ nhiều người.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn xác định đây là quan hệ tranh chấp dân sự “Đòi tài sản” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

[2] Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa ông Huỳnh Văn H thừa nhận có nợ ông Trần Văn Đ 170.000.000 đồng như ông Đtrình bày và cũng đồng ý trả cho ông Đsố tiền này. Đây là tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Do đó, việc ông Trần Văn Đ khởi kiện yêu cầu ông Huỳnh Văn H trả 170.000.000 đồng là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về thời gian trả nợ: Ông Huỳnh Văn H xin trả dần, mỗi năm trả cho ông Trần Văn Đ 5.000.000 đồng cho đến khi hết nợ nhưng không được ông Đchấp nhận. Mặt khác, tại biên nhận mượn tiền do ông Đlập vào ngày 29/12/2018 có nội dung: “...khi nào anh Đlấy lại tôi pH trả lại cho anh Đtổng số tiền nêu trên.” , như vậy ông H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, việc ông H kéo dài thời gian trả nợ là gây thiệt thòi đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông Đnên yêu cầu xin trả dần của ông H là không có cơ sở để Hội đồng xét xử xem xét.

Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn pH chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điều 166, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn Đ.

Buộc ông Huỳnh Văn H phải trả cho ông Trần Văn Đ số tiền 170.000.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí: Ông Huỳnh Văn H phải chịu 8.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Trả lại cho ông Trần Văn Đ 4.250.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0018254 ngày 11/11/2022 của Chi Cục thi hành án dân sự thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án Dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Cỡ chữ