- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Lê Văn L-Diệp Hồng T: Vay tài sản"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn L về việc yêu cầu ông Diệp Hồng T thanh toán nợ vay.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2023/DS-ST Ngày: 11-01-2023 V/v T/c hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Bảo Trâm
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hồ Quốc Văn
2. Bà Lê Thị Duyên
- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Hồng Như, là Thư ký Toà án nhân dân huyện Thới Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Ông Võ Hồng Quân, Kiểm sát viên.
Trong ngày 11 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thới Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 60/2022/TLST-DS ngày 04 tháng 5 năm 2022, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 274/2022/QĐXXST-DS ngày 02 tháng 12 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Lê Văn L, sinh năm 1955, có mặt
Địa chỉ: Khóm 5, thị trấn T, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông L: Ông Kim Chan Đa R là Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Cà Mau, có mặt
2. Bị đơn: Ông Diệp Hồng T, vắng mặt
Địa chỉ: Khóm 2, thị trấn T, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.
3. Người có quyền L, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Trương Thị N (vợ ông T), vắng mặt
Địa chỉ: Khóm 2, thị trấn T, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.
3.2. Bà Hồ Thị Bé E (vợ ông L), có đơn xin vắng mặt
Địa chỉ: Khóm 5, thị trấn T, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 18/4/2022, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, ông Lê Văn L và ông Kim Chan Đa R trình bày:
Vào ngày 21/4/2020 (dương lịch) ông L có cho ông T vay số tiền 20 triệu đồng, ông T có làm giấy biên nhận nhận tiền cho ông L. Ông T là người trực tiếp viết biên nhận và nhận tiền, không có mặt bà N.
Số tiền này là do ông L vay của Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện Thới Bình nên tiền lãi các bên thỏa thuận là bằng với mức thu lãi của Ngân hàng, ông T, ông L tự tính mỗi tháng là 140.000 đồng.
Từ khi vay đến nay, ông T đóng lãi được 500.000 đồng và sau đó không tiếp tục thanh toán vốn và lãi cho ông L.
Nay ông L yêu cầu ông T thanh toán cho vợ chồng ông số tiền vốn vay là 20 triệu đồng và tiền lãi từ khi vay đến nay theo mức lãi suất của Ngân hàng (7,92%/năm) là 4.316.000 đồng, đối trừ 500.000 đồng, còn lại 3.816.000 đồng. Tổng cộng là. 23.816.000 đồng.
* Tại biên bản lấy lời khai ngày 15/8/2022, ông Diệp Hồng T trình bày:
Ông T xác định có vay của ông L 20 triệu đồng, số tiền này là ông L vay của Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Thới Bình. Biên nhận nhận tiền ông L cung cấp cho Tòa án là đúng nội dung và chữ ký của ông.
Sau khi vay ông có đóng lãi nhưng không nhớ đã đóng bao Nêu. Đến khi dịch bệnh Covid 19 diễn biến phức tạp thì do điều kiện khó khăn nên ông không tiếp tục đóng lãi nữa cho đến nay.
Ông không đồng ý trả nợ theo yêu cầu của ông L mà chỉ trả cho Ngân hàng và trả khi đến hạn. Mục đích vay tiền là để chi xài cho bản thân ông, không liên quan đến gia đình, vợ con.
Tại thời điểm vay tiền cho đến nay thì ông và vợ là bà Trương Thị N vẫn còn chung sống với nhau.
* Tại biên bản lấy lời khai ngày 10/8/2022, bà Trương Thị N trình bày:
Bà là vợ ông T. Bà và ông T chung sống với nhau từ năm 2001 cho đến nay. Việc ông T vay tiền của ông L bà không biết, không có liên quan. Bà không biết mục đích ông T vay tiền để làm gì.
Bà không thống nhất cùng với ông T thanh toán số tiền này cho ông L vì việc vay tiền ông T, ông L không bàn bạc với bà, không cho bà biết.
* Tại biên bản lấy lời khai ngày 22/6/2022, bà Hồ Thị Bé E trình bày:
Bà là vợ ông L. Ông L vay tiền của Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Thới Bình để đưa cho ông T số tiền 20 triệu đồng. Đến nay ông T không trả vốn và lãi cho ông L nên bà yêu cầu vợ chồng ông T phải trả cho vợ chồng bà 20 triệu đồng tiền vốn vay và tiền lãi mỗi tháng là 140.000 đồng.
Do bận công việc gia đình nên bà xin được vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án.
* Tại phiên tòa, Luật sư Kim Cha Đa R đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông L, buộc ông T thanh toán cho ông L và bà E tổng số tiền là 23.816.000 đồng.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án đã tuân thủ đúng theo quy định pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc ông T thanh toán cho ông L, bà E số tiền vốn vay là 20 triệu đồng và tiền lãi theo mức lãi suất là 7,92%/năm từ ngày 21/4/2020 cho đến nay. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông T phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xE xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:
Ông Lê Văn L khởi kiện yêu cầu ông Diệp Hồng T thanh toán tiền vay nên đây là tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Ông T có địa chỉ tại Khóm 2, thị trấn Thới Bình, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của ông L thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Ông T, bà N được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Bà E có đơn xin vắng mặt. Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự này.
Theo các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, thể hiện vào ngày 21/4/2020 (dương lịch), ông T có vay của ông L số tiền 20 triệu đồng thể hiện tại Biên nhận do ông T tự viết và ký tên. Ông T thừa nhận việc vay tiền của ông L. Do đó, xác định việc ông T có vay tiền của ông L là có thật và hợp pháp.
Tại Biên bản lấy lời khai ngày 15/8/2022, ông T thừa nhận số tiền vốn vay 20 triệu đồng hiện tại ông chưa thanh toán. Tuy Nên, ông không thống nhất thanh toán cho ông L số tiền này mà ông yêu cầu được thanh toán cho Ngân hàng. Xét thấy, ông L là người trực tiếp vay tiền của Ngân hàng, sau đó, cho ông T vay lại. Ông T tự viết biên nhận và ký tên. Do đó, cần buộc ông T thanh toán cho vợ chồng ông L số tiền vốn vay là 20 triệu đồng.
Đối với lãi suất: Ông L yêu cầu ông T thanh toán tiền lãi với mức lãi suất là 7,92%/năm (0,66%/tháng, 0,022%/ngày). Xét thấy, mức lãi này phù hợp với quy định pháp luật nên được chấp nhận. Từ ngày 21/4/2022 đến ngày xét xử (ngày 11/01/2023) là 02 năm 08 tháng 21 ngày, tương ứng với số tiền là 4.316.400 đồng. Ông T đã trả được 500.000 đồng, còn lại 3.816.400 đồng. Như vậy, cần buộc ông T thanh toán cho vợ chồng ông L, bà E số tiền lãi là 3.816.000 đồng.
Tổng cộng vốn và lãi ông T phải thanh toán cho vợ chồng ông L, bà E là 23.816.400 đồng.
Ông T, bà N xác định bà N không liên quan đến khoản nợ này và ông L cũng thừa nhận khi ông T viết biên nhận và nhận tiền không có mặt bà N, ông L không có nói cho bà N biết việc ông T vay tiền của ông nên ông không yêu cầu bà N cùng thanh toán nợ. Do đó, không buộc bà N phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền nợ trên cho vợ chồng ông L, bà E.
Về lãi suất chậm thi hành án: Ông T phải chịu theo quy định pháp luật.
Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí. Ông T trên 60 tuổi nhưng không có đơn xin miễn án phí nên ông T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Tại phiên tòa ông L có mặt nên thời hạn kháng cáo tính kể từ ngày tuyên án. Ông T, bà E, bà N vắng mặt, nên thời hạn kháng cáo được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng các điều 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn L về việc yêu cầu ông Diệp Hồng T thanh toán nợ vay. Buộc ông Diệp Hồng T có nghĩa vụ thanh toán cho vợ chồng ông Lê Văn L, bà Hồ Thị Bé E số tiền vay còn nợ tính đến hết ngày 11/01/2023 là 23.816.400 đồng (Hai mươi ba triệu tám trăm mười sáu nghìn bốn trăm đồng), trong đó tiền vốn vay là 20 (Hai mươi) triệu đồng, tiền lãi là 3.816.400 đồng (Ba triệu tám trăm mười sáu nghìn bốn trăm đồng).
2. Kể từ ngày ông L, bà E có đơn yêu cầu thi hành án. Trường hợp ông T không thanh toán khoản tiền nói trên thì ông T còn phải chịu tiền lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Ông T phải chịu 1.191.000 đồng (Một triệu một trăm chín mươi mốt nghìn đồng, làm tròn số). Ông L không phải chịu án phí.
4. Ông L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông T, bà N, bà E vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được nhận bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Thới Bình; - Chi cục THADS huyện Thới Bình; - TAND tỉnh Cà Mau; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Thị Bảo Trâm |