- Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về danh dự, nhân phẩm, uy tín — án dân sự — "Nguyễn Thị T - Phạm Bá Q"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 2 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 584, Điều 592 của Bộ luật dân sự năm 2015 điểm d khoản 1 Điều 12, khoản 4 Điều 26, khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH…
- Căn cứ chính? Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 592 Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2023/DS-PT Ngày 04 /01/ 2023 V/v “Buộc xin lỗi công khai; Yêu cầu bồi thường thiệt hại về danh dự, nhân phẩm” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Anh Trang
Các Thẩm phán: Bà Ngô Thị Trang và ông Hàng Lâm Viên
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Thanh Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận: Bà Huỳnh Thị Hồng Yến - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 04 tháng 01 năm 2023, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 61/2022/TLPT-DS ngày 28 tháng 11 năm 2022 về tranh chấp: “Yêu cầu bồi thường thiệt hại về danh dự, nhân phẩm và Buộc xin lỗi công khai;”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 47/2022/DS-ST ngày 29/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 40/2022/QĐ-PT ngày 06 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T - sinh năm 1969 ( có mặt).
Địa chỉ: Khu phố E, thị trấn T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
2. Bị đơn: Ông Phạm Bá Q – sinh năm 1964 ( có mặt).
Địa chỉ: Số B đường L, khu phố H, thị trấn T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
3. Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, quá trình tố tụng Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị T trình bày:
Năm 2021, bà và ông Phạm Bá Q canh tác ruộng lúa gần nhau, ruộng bà và ruộng ông Q cách nhau con mương tiêu, thoát nước. Trong quá trình canh tác, ông Q đã nhiều lần cuốc phá bờ mương, lấp mương gây khó khăn trong việc canh tác lúa của bà nên hai bên đã nhiều lần cãi vã nhau về con mương. Trong những lần ông Q cuốc phá, lấp mương thì bà cho người dùng điện thoại quay phim để ghi hình ông Q nhằm làm bằng chứng cho việc ông Q là người trực tiếp cuốc phá, lấp mương. Vào ngày 11/9/2021, ông Q đang khắc phục lại mương theo vị trí ban đầu, nhìn thấy bà cho người quay phim, ông Q vừa bỏ chạy vừa có những câu nói “Bà T1 nứng lồn”, “Mọi người xem, bà T1 cứ ôm lại thì sao mà làm”. Mặt khác, tại đơn trình báo gửi Công an thị trấn T ngày 10/6/2021 có đoạn ông Q viết “Bà T1 xổ ra trò bỉ ổi nhào vô ôm tôi, hô hoán là tôi ôm bà". Với những lời nói và câu viết như vậy thì ông Q đã xúc phạm danh dự, nhân phẩm của bà nên bà yêu cầu Tòa án buộc ông Q phải xin lỗi công khai và bồi thường thiệt hại về danh dự, nhân phẩm cho bà với số tiền 14.900.000 đồng.
Tại bản tự khai và quá trình tố tụng Bị đơn là ông Phạm Bá Q trình bày:
Vào năm 2021, ông có thuê đất của bà B là mẹ vợ của ông để canh tác cây lúa nước, đất ông thuê bà B gần đất của bà T (cách nhau con mương thoát nước). Trong quá trình canh tác thì giữa bà B và bà T có tranh chấp con mương, bà B nói “con mương thoát nước là của bà B”. Việc ông đảo, lấp mương thoát nước hay khắc phục việc đào, lấp mương hoàn toàn là thực hiện theo ý kiến của bà B. Trong những lần ông canh tác ruộng lúa cũng như đào, lấp mương thì bà T đã nhiều lần dùng điện thoại di động ngang nhiên quay phim và nhiều lần có hành vi gây hấn, khiêu khích ông. Cụ thể, vào ngày 11/9/2021, trong lúc ông đang khắc phục lại con mương như vị trí ban đầu theo ý kiến của bà B thì bà T đã ngang nhiên dùng điện thoại quay clip để ghi hình ông, lúc đang làm mệt mỏi, bà T lại có hành vi xem thường pháp luật dùng điện thoại để ghi hình và lo sợ việc bà T sử dụng hình ảnh của ông nhằm làm ảnh hưởng đến uy tín của ông vì trước đây bà T đã có nhiều đơn thư tố cáo ông nên ông bức xúc, khi ông nhìn thấy bà T cho người quay phim thì ông vác cuốc bỏ chạy, vừa chạy vừa nói "Bà T1 nứng lồn", "Mọi người xem, bà T1 cứ ôm lại thì sao mà làm”. Lúc ông nói những câu này thì chỉ có ông, bà T và người trực tiếp quay clip. Ông nói “bà T1 nứng lồn" nhằm ám chỉ hành vi ngang nhiên, xem thường pháp luật nên đã dùng điện thoại ghi hình ảnh của ông chứ ông không nhằm mục đích để xúc phạm danh dự, nhân phẩm của bà T. Đối với câu nói “Mọi người xem, bà T1 cứ ôm lại thì sao mà làm” thì ông diễn tả hành vi ngăn căn của bà T đối với ông nhằm không cho ông tác động đến con mương chứ không nhằm mục đích xúc phạm danh dự, nhân phẩm của bà T.
Tại đơn trình báo gửi Công an thị trấn T vào ngày 10/6/2021, có đoạn ông viết “Bà T1 xổ ra trò bỉ ổi nhào vô ôm tôi, hô hoán là tôi ôm bà” là nhằm diễn tả lại sự việc bà T có hành vi ngăn cản không cho ông chặn nước từ ruộng bà T xổ xuống ruộng của ông và bà T nhiều lần xả nước với số lượng lớn vào ruộng lúa ông mới xạ làm hư lúa của ông chứ không nhằm mục đích xúc phạm danh dự, nhân phẩm của bà T.
Vì vậy, yêu cầu của bà T về việc buộc ông phải công khai xin lỗi và bồi thường thiệt hại về danh dự, nhân phẩm với số tiền 14.900.000đ thì ông không đồng ý.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 47/2022/DS-ST ngày 29/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận đã quyết định:
Áp dụng: khoản 6 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Áp dụng: Điều 584, Điều 592 của Bộ luật Dân sự năm 2015
Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Q1;
Tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T về việc buộc ông Phạm Bá Q phải công khai xin lỗi và bồi thường thiệt hại về danh dự, nhân phẩm với số tiền là 14.900.000đ.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo của đương sự.
Ngày 07 tháng 10 năm 2022, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 47/2022/DS-ST ngày 29/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận phát biểu quan điểm:
Về việc chấp hành pháp luật: Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa, Thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về nội dung kháng cáo: Đối với yêu cầu xin lỗi công khai, tại phiên tòa ông Q đã xin lỗi bà T nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận; Đối với bồi thường thiệt hại về danh dự, nhân phẩm buộc ông Q phải bồi thường cho bà T 03 lần mức lương cơ sở tương ứng 4.470.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn nộp trong thời hạn luật định, hợp lệ và được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về quan hệ pháp luật: Căn cứ vào đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ, lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa, Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật là “Yêu cầu bồi thường thiệt hại về danh dự, nhân phẩm và Buộc xin lỗi công khai;” và vụ án thuộc thẩm quyền, phạm vi giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ninh sơn là đúng quy định theo khoản điều 26, điểm a khoản 1 điều 35 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Xét kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T, Hội đồng xét xử xét thấy:
Xuất phát từ mâu thuẫn trong quá trình canh tác ruộng lúa gần nhau về việc sử dụng con mương tiêu, thoát nước, khi thấy bà Nguyễn Thị T đến quay video và xông đến ngăn cản ông Phạm Bá Q vét mương thì ông Q đã có lời nói “Bà T1 nứng lồn, nó đem cả mẹ, cả con tới tao sợ rồi mà; bà con coi nè , tôi làm mà nó đem cả mẹ, cả con tới ôm tôi không cho tôi làm nè, đó nó quay phim đó”. Ngoài ra, tại Đơn trình báo gửi Công an thị trấn T ngày 10/6/2021, ông Q cũng viết nội dung “Bà T1 xổ ra trò bỉ ổi nhào vô ôm tôi, hô hoán là tôi ôm bà”. Quá trình tố tụng ông Q cũng đã thừa nhận các thông tin đã dùng lời lẽ thô tục làm ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm của bà T và đã bị Công an huyện N ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 5 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ.
Danh dự, nhân phẩm là giá trị nhân thân không trị giá được bằng tiền, thiệt hại mà chủ thể bị xâm phạm phải gánh chịu bao gồm cả thiệt hại vật chất và tổn thất tinh thần. Điều 34 Bộ luật Dân sự quy định : “ Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ… “, Tại khoản 1 Điều 584 Bộ luật dân sự quy định: “Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có quy định khác”.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, bà T không cung cấp được tài liệu, chứng cứ để chứng minh thiệt hại vật chất của mình do ông Q gây ra theo quy định tại khoản 1 Điều 592 Bộ luật Dân sự. Tuy nhiên, theo quy định tại điểm b khoản 3.3 mục 3 Phần I của Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08 tháng 7 năm 2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì trong mọi trường hợp khi danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm, người bị xâm phạm được bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần. Căn cứ vào hình thức xâm phạm là chỉ bằng lời nói, thời điểm ông Q có lời nói xúc phạm bà T chỉ có ông Q, bà T và người quay video nên mức độ xâm phạm không cao, phương thức lan truyền thông tin không lớn và hành vi của ông Q đã chấm dứt ngay tại thời điểm đó. Ngoài ra, bà T cũng có một phần lỗi là tự ý quay video ông Q mà chưa được sự cho phép của ông Q. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy việc yêu cầu ông Q công khai xin lỗi là không cần thiết, Do đó căn cứ khoản 2 Điều 592 Bộ luật Dân sự, Hội đồng xét xử buộc ông Q bồi thường tổn thất tinh thần cho bà T ba lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định, tương đương với số tiền 4.470.000 đồng.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên; chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn. Sửa bản án sơ thẩm.
Về án phí:
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Do chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện buộc ông Q bồi thường cho bà T số tiền 4.470.000 đồng nên ông Q phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm. Bà T không phải chịu án phí sơ thẩm.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Do sửa bản án sơ thẩm nên bà T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự.
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 2 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 584, Điều 592 của Bộ luật dân sự năm 2015 điểm d khoản 1 Điều 12, khoản 4 Điều 26, khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 47/2022/DS-ST ngày 29/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T đối với bị đơn ông Phạm Bá Q về việc bồi thường thiệt hại về danh dự, nhân phẩm bị xâm phạm. Buộc ông Phạm Bá Q phải bồi thường tổn thất tinh thần cho bà Nguyễn Thị T số tiền là 4.470.000 đồng (Bốn triệu bốn trăm bảy mươi ngàn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
3. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T đối với bị đơn ông Phạm Bá Q về việc buộc xin lỗi công khai.
4. Về án phí:
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Phạm Bá Q phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm. Bà Nguyễn Thị T không phải chịu án phí sơ thẩm.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử phúc thẩm, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 04/01/2023)./.
CÁC THẨM PHÁN
| Ngô Thị Trang Hàng Lâm Viên | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Anh Trang |