vanban.org

Bản án 01/2022/ST-KDTM — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần A với bà Đinh Diễm Tr (hộ kinh doanh Đinh Diễm Tr) về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.

Buộc bà Đinh Diễm Tr (hộ kinh doanh Đinh Diễm Tr) phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần A tổng cộng nợ gốc và lãi suất tính đến ngày 12/9/2022 là 2.476.106.164 đồng (trong đó gồm: gốc 2.000.000.000 đồng, lãi 476.106.164 đồng). Kể từ ngày 13/9/2022, bà Đinh Diễm Tr (hộ kinh doa… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án kinh doanh thương mại — "Ngân hàng TMCP A - Đinh Diễm Tr"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần A với bà Đinh Diễm Tr (hộ kinh doanh Đinh Diễm Tr) về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÒA BÌNH
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:01/2022/ST-KDTM
Ngày 12/9/2022
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA BÌNH – TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lữ Văn Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Tấn Phước

2. Ông Liêu Tài Ngoánh

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Dư - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên toà: Ông Văn Hửu Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 9 năm 2022, tại Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 17/2021/TLST- KDTM ngày 22 tháng 11 năm 2021, về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2022/QĐXX-ST ngày 15 tháng 6 năm 2022 giữa:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần A

Địa chỉ: số xx đường XY, quận H, thành phố H

Đại diện theo pháp luật: Ông Lê Đức Th, chức vụ: Chủ tịch hội đồng quản trị

Đại diện theo ủy quyền: Ông Đoàn Hoàng N, chức vụ: Trưởng phòng bán lẻ - Ngân hàng Thương mại Cổ phần A chi nhánh B

2. Bị đơn: Bà Đinh Diễm Tr, sinh năm 1977; trú tại : Ấp X, xã V, huyện H, tỉnh B (là chủ hộ kinh doanh Đinh Diễm Tr)

3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

3.1. Ông Huỳnh Phước L, sinh năm 1976; trú tại : Ấp X, xã V, huyện H, tỉnh B

3.2. Ông Đinh Thanh V, sinh năm 1976; trú tại : Ấp X, xã V, huyện H, tỉnh B

3.3. Anh Lâm Chí L, sinh năm 1995; trú tại : Ấp X, xã V, huyện H, tỉnh B

(Ông N, bà Tr và ông V có mặt;

ông L và ông L vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, các lời khai tiếp theo tại Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình, ông Đoàn Hoàng N là đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn - Ngân hàng Thương mại Cổ phần A (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) trình bày:

Ngày 02/10/2019, bà Đinh Diễm Tr (hộ kinh doanh Đinh Diễm Tr) đã vay vốn tại Ngân hàng theo hợp đồng tín dụng hạn mức số BL-54-018/2019-HĐCVHM/NHCT862 ngày 02/10/2019; số tiền vay 2.000.000.000 đồng, lãi suất 9,5%/năm, thời hạn thanh toán là 12 tháng, mục đích vay bổ sung vốn lưu động kinh doanh thu mua tôm nguyên liệu. Tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số BL-063-035/2015-HĐTC/NHCT862 ngày 29/6/2015 gồm: diện tích 298,4m² thuộc thửa 763 tờ bản đồ số 12, đất tọa lạc tại ấp X, xã V, huyện H, tỉnh B do bà Đinh Diễm Tr đứng tên quyền sử dụng; diện tích 2.467,5m² thuộc thửa 717 tờ bản đồ số 12, đất tọa lạc tại ấp X, xã V, huyện H, tỉnh B do bà Đinh Diễm Tr đứng tên quyền sử dụng; diện tích 9,397,5m² thuộc thửa 360 tờ bản đồ số 5, đất tọa lạc tại ấp Y, xã V, huyện H, tỉnh B do bà Đinh Diễm Tr và ông Huỳnh Phước L đứng tên quyền sử dụng.

Kể từ khi vay đến nay thì bà Đinh Diễm Tr chưa thanh toán cho Ngân hàng khoản gốc, lãi nào. Như vậy đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận của Hợp đồng tín dụng nên yêu cầu bà Đinh Diễm Tr phải thanh toán cho Ngân hàng toàn bộ số tiền 2.476.106.164 đồng. Trong đó gồm: gốc 2.000.000.000 đồng, lãi tính đến ngày 12/9/2022 là 476.106.164 đồng. Đồng thời, yêu cầu tính tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết kể từ ngày 13/9/2022 cho đến khi bà Đinh Diễm Tr thanh toán hết nợ cho Ngân hàng.

Trường hợp bà Đinh Diễm Tr không thanh toán được thì Ngân hàng có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp là các diện tích đất gồm: diện tích 2.467,5m² thuộc thửa 717 tờ bản đồ số 12, đất tọa lạc tại ấp X, xã V, huyện H, tỉnh B do bà Đinh Diễm Tr đứng tên quyền sử dụng; diện tích 9,397,5m² thuộc thửa 360 tờ bản đồ số 5, đất tọa lạc tại ấp Y, xã V, huyện H, tỉnh B do bà Đinh Diễm Tr và ông Huỳnh Phước L đứng tên quyền sử dụng; diện tích 298,4m² thuộc thửa 763 tờ bản đồ số 12, đất tọa lạc tại ấp X, xã V, huyện H, tỉnh B do bà Đinh Diễm Tr đứng tên quyền sử dụng và tài sản gắn liền với đất để thu hồi nợ. Ngoài ra không yêu cầu gì khác.

Bị đơn – bà Đinh Diễm Tr trình bày:

Bà Đinh Diễm Tr thừa nhận có vay và nợ Ngân hàng TMCP A chi nhánh B số tiền 2.000.000.000 đồng và thống nhất với nội dung đại diện Ngân hàng trình bày như nêu trên. Bà cam kết sẽ thanh toán toàn bộ số tiền 2.000.000.000 đồng (hai tỷ) và lãi phát sinh tính đến ngày 12/9/2022 là 476.106.164 đồng. Tiếp tục tính tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết kể từ ngày 13/9/2022 cho đến khi bà Đinh Diễm Tr thanh toán hết nợ cho Ngân hàng. Trường hợp bà Đinh Diễm Tr không thanh toán được thì Ngân hàng có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ.

Ngoài ra, bà Tr trình bày: Khi vay thì bà có đăng ký kinh doanh: mua bán thức ăn thủy sản, thu mua tôm nguyên liệu nhưng bà đã ngưng kinh doanh khoảng 02 năm nay, đã liên hệ cơ quan có thẩm quyền thông báo ngưng và không có đóng thuế 02 năm nay. Việc đăng ký kinh doanh là đăng ký cá nhân, không có thuê mướn nhân viên làm việc.

Thực tế là toàn bộ tài sản thế chấp Ngân hàng hiện nay là do bà đang trực tiếp quản lý. Nhưng do hiện nay bà không còn kinh doanh gì nên gặp khó khăn vì vậy bà đã cho anh ruột là ông Đinh ThanhVân, hiện cứ trú: tại nhà bà - ấp X, xã V, huyện H) làm ao vèo tôm trong nhà và làm ao lắng bên ngoài nhà (thuộc thửa đất 763). Việc xây dựng ao vèo tôm, ao lắng và kinh doanh là do ông V tự bỏ vốn ra làm, nếu có lời thì ông V chia cho bà ½. Ngoài ra, thì con nuôi bà tên Lâm Chí L, sinh năm 1995; hiện cư trú tại nhà bà: ấp X, xã V, huyện H có đứng tên đăng ký kinh doanh về việc vèo tôm trên nhưng thực tế Linh không có làm gì cả, do ông Đinh Thanh V tự làm. Do là người thân với nhau nên giữa bà, ông V và anh Linh không có lập hợp đồng hay thỏa thuận gì với nhau. Nếu bà không thanh toán được nợ cho Ngân hàng thì đồng ý để Ngân hàng phát mãi tài sản thế chấp, bao gồm cả tài sản trên đất là căn nhà và các công trình là ao vèo tôm, ao lắng do ông V xây dựng như nêu trên.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan - ông Huỳnh Phước L vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án này. Không gửi văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu của người khởi kiện.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan – ông Đinh Thanh V trình bày:

Do em ruột là Đinh Diễm Tr gặp khó khăn nên không còn kinh doanh nữa, trong khi không có thu nhập để trả nợ gốc, lãi cho Ngân hàng. Vì vậy, bà Tr có cho ông xây dựng các ao vèo tôm trong nhà của bà Tr và làm 01 ao lắng bên ngoài nhà để ông ươm và phân phối tôm giống, ông làm có lãi thì cho bà Tr trả bớt lãi Ngân hàng. Giữa ông và bà Tr không có thỏa thuận gì với nhau khác. Ông biết phần đất mà ông làm các ao vèo tôm, ao lắng là bà Tr đã thế chấp Ngân hàng, ông chỉ làm tạm nếu sau này bà Tr không trả nợ Ngân hàng thì ông cũng đồng ý để Ngân hàng phát mãi toàn bộ các ao vèo tôm, ao lắng của ông xây dựng để trả nợ cho bà Tr, ông không có ý kiến hay yêu cầu gì khác.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan – anh Lâm Chí L trình bày:

Anh là con nuôi và hiện đang cư trú cùng nhà với bà Đinh Diễm Tr. Anh có đăng ký kinh doanh: ươm và phân phối tôm giống, địa chỉ là nhà của bà Tr (ấp X, xã V, huyện H, tỉnh B). Anh đăng ký kinh doanh để cho ông Đinh Thanh V hoạt động, chứ anh không có tham gia, hưởng lợi gì vào việc kinh doanh của ông V và cũng không có thỏa thuận gì với ông V và bà Tr. Anh biết phần đất gắn liền nhà của bà Tr đã thết chấp Ngân hàng, Ngân hàng có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của bà Tr theo quy định; anh không có ý kiến hay yêu cầu gì khác trong vụ án này.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình phát biểu ý kiến:

Về chấp hành pháp luật tồ tụng: Quá trình từ khi thụ lý đến khi xét xử vụ án, án cũng như tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ các Điều 30; Điều 35; Điều 39; Điều 92 và Điều 165 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP A kiện đòi bà Đinh Diễm Tr (hộ kinh doanh Đinh Diễm Tr).

Buộc bà Đinh Diễm Tr (hộ kinh doanh Đinh Diễm Tr) có nghĩa vụ trả toàn bộ số tiền vat tính đến ngày 12/9/2022 là 2.476.106.164 đồng. Trong đó gồm: gốc 2.000.000.000 đồng, lãi tính đến ngày 12/9/2022 là 476.106.164 đồng. Tiếp tục tính tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết kể từ ngày 13/9/2022 cho đến khi bà Đinh Diễm Tr thanh toán hết nợ cho Ngân hàng.

Trường hợp bà Đinh Diễm Tr không thanh toán được thì Ngân hàng có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp là các diện tích đất gồm: diện tích 298,4m² thuộc thửa 763 tờ bản đồ số 12, đất tọa lạc tại ấp X, xã V, huyện H, tỉnh B do bà Đinh Diễm Tr đứng tên quyền sử dụng; diện tích 2.467,5m² thuộc thửa 717 tờ bản đồ số 12, đất tọa lạc tại ấp X, xã V, huyện H, tỉnh B do bà Đinh Diễm Tr đứng tên quyền sử dụng; diện tích 9,397,5m² thuộc thửa 360 tờ bản đồ số 5, đất tọa lạc tại ấp Y, xã V, huyện H, tỉnh B do bà Đinh Diễm Tr và ông Huỳnh Phước L đứng tên quyền sử dụng để thu hồi nợ.

Bà Đinh Diễm Tr phải chịu án phí và chi phí tố tụng theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về pháp luật tố tụng: Nguyên đơn là Ngân hàng TMCP A ``````````````````````````````````````````````````````````````````````````````````khởi kiện bà Đinh Diễm Tr (hộ kinh doanh Đinh Diễm Tr) tranh chấp về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng, bà Đinh Diễm Tr có đăng ký kinh doanh (hộ kinh doanh Đinh Diễm Tr), mục đích vay để bổ sung vốn vốn lưu động kinh doanh thu mua tôm nguyên liệu nên đây là tranh chấp về kinh doanh thương mại theo quy định tại khoản 1 Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn là Đinh Diễm Tr (hộ kinh doanh Đinh Diễm Tr) có trụ sở tại ấp X, xã V, huyện H, tỉnh B nên vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Ông Huỳnh Phước L và anh Lâm Chí L vắng mặt lần thứ 02 tại phiên tòa không có lý do, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ; đồng thời không có yêu cầu độc lập nên Hội đồng xét xử xử vắng mặt ông Huỳnh Phước L và anh Lâm Chí L theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Xét các Hợp đồng tín dụng hạn mức số BL-54-018/2019-HĐCVHM/NHCT862 ngày 02/10/2019 và hợp đồng thế chấp số BL-063-035/2015-HĐTC/NHCT862 ngày 29/6/2015, thấy rằng: các bên giao kết hợp đồng là tự nguyện và tuân thủ đúng quy định của pháp luật về hình thức và nội dung. Hơn nữa, trong quá trình làm việc thì bà Đinh Diễm Tr cũng thống nhất thừa nhận có giao dịch như Ngân hàng đã trình bày ở trên. Riêng ông Huỳnh Phước L thì vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và cũng không có ý kiến phản đối hay ý kiến gì khác. Căn cứ khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử công nhận các Hợp đồng tín dụng hạn mức và hợp đồng thế chấp trên là có thật và hợp pháp. Bà Đinh Diễm Tr đã để nợ quá hạn, mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc nhắc nhở về việc thanh toán nợ nhưng đến nay vẫn không thanh toán nợ gốc, lãi. Bà Đinh Diễm Tr còn nợ Ngân hàng tổng cộng nợ gốc và lãi suất tính đến ngày 12/9/2022 là 2.476.106.164 đồng. Trong đó gồm: gốc 2.000.000.000 đồng, lãi 476.106.164 đồng.

Vì vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, buộc bà Đinh Diễm Tr phải thanh toán toàn bộ số tiền 2.476.106.164 đồng, trong đó gồm: gốc 2.000.000.000 đồng, lãi 476.106.164 đồng và lãi suất phát sinh theo hợp đồng tín dụng hạn mức đã ký kết trên từ ngày 13/9/2022 cho đến khi trả dứt nợ.

Theo các biên bản thẩm định tài sản thế chấp trên đất có căn nhà cấp 4 (02 gian) xây dựng năm 2012, hiện do bà Đinh Diễm Tr đang trực tiếp quản lý, sử dụng và có cho ông Đinh Thanh V và anh Lâm Chí L ở cùng. Ngoài ra, bà Đinh Diễm Tr, ông Đinh Thanh V và anh Lâm Chí L đều thống nhất trình bày và cam kết: Bà Tr có cho ông Đinh ThanhVân xây dựng, làm ao ươm, vèo tôm trong nhà và làm ao lắng bên ngoài nhà (thuộc thửa đất 763). Kinh phí xây dựng ao vèo tôm, ao lắng là do ông V tự bỏ vốn ra làm, nếu có lời thì ông V chia cho bà ½. Bên cạnh đó, thì con nuôi bà Tr tên Lâm Chí L có đứng tên đăng ký kinh doanh về việc ươm và phân phối tôm giống nhưng thực tế Linh không có làm gì cả, mà do ông Đinh Thanh V tự làm. Do là người thân với nhau nên giữa bà, ông V và anh Linh không có lập hợp đồng hay thỏa thuận gì với nhau. Nếu bà Đinh Diễm Tr không thanh toán được nợ cho Ngân hàng thì bà Tr, ông V, anh Linh đồng ý để Ngân hàng phát mãi tài sản thế chấp, bao gồm cả tài sản trên đất là căn nhà và các công trình là ao ươm, vèo tôm, ao lắng do ông V xây dựng để trả nợ cho bà Tr, không ai có ý kiến hay yêu cầu gì khác.

Vì vậy, Trường hợp bà Đinh Diễm Tr (hộ kinh doanh Đinh Diễm Tr) không thanh toán thì Ngân hàng có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất với diện tích đất gồm: diện tích 298,4m² thuộc thửa 763 tờ bản đồ số 12, đất tọa lạc tại ấp X, xã V, huyện H, tỉnh B do bà Đinh Diễm Tr đứng tên quyền sử dụng; diện tích 2.467,5m² thuộc thửa 717 tờ bản đồ số 12, đất tọa lạc tại ấp X, xã V, huyện H, tỉnh B do bà Đinh Diễm Tr đứng tên quyền sử dụng; diện tích 9,397,5m² thuộc thửa 360 tờ bản đồ số 5, đất tọa lạc tại ấp Y, xã V, huyện H, tỉnh B do bà Đinh Diễm Tr và ông Huỳnh Phước L đứng tên quyền sử dụng và căn nhà cấp 4, các ao ươm, vèo tôm, ao lắng 4 gắn liền trên đất để thu hồi nợ.

Về án phí và chi phí tố tụng: bà Đinh Diễm Tr (hộ kinh doanh Đinh Diễm Tr) phải chịu chi phí thẩm định tài sản là 900.000 đồng và chịu án phí kinh doanh thương mại có giá ngạch là 81.522.000 đồng.

Từ những nội dung đã phân tích trên nên Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ nên chấp nhận toàn bộ.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 30; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 3 Điều 36; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 92; khoản 1 Điều 157; khoản 1 Điều 158; khoản 1 Điều 165; khoản 1 điều 166; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 2 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91 Luật tổ chức tín dụng; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số nội dung của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; khoản 2 Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần A với bà Đinh Diễm Tr (hộ kinh doanh Đinh Diễm Tr) về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.

2. Buộc bà Đinh Diễm Tr (hộ kinh doanh Đinh Diễm Tr) phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần A tổng cộng nợ gốc và lãi suất tính đến ngày 12/9/2022 là 2.476.106.164 đồng (trong đó gồm: gốc 2.000.000.000 đồng, lãi 476.106.164 đồng).

Kể từ ngày 13/9/2022, bà Đinh Diễm Tr (hộ kinh doanh Đinh Diễm Tr) còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà bà Đinh Diễm Tr (hộ kinh doanh Đinh Diễm Tr) phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

Trường hợp bà Đinh Diễm Tr (hộ kinh doanh Đinh Diễm Tr) không thanh toán nợ, Ngân hàng Thương mại Cổ phần A có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ gồm: diện tích 2.467,5m² thuộc thửa 717 tờ bản đồ số 12, đất tọa lạc tại ấp X, xã V, huyện H, tỉnh B do bà Đinh Diễm Tr đứng tên quyền sử dụng; diện tích 9,397,5m² thuộc thửa 360 tờ bản đồ số 5, đất tọa lạc tại ấp Y, xã V, huyện H, tỉnh B do bà Đinh Diễm Tr và ông Huỳnh Phước L đứng tên quyền sử dụng; diện tích 298,4m² thuộc thửa 763 tờ bản đồ số 12, đất tọa lạc tại ấp X, xã V, huyện H, tỉnh B do bà Đinh Diễm Tr đứng tên quyền sử dụng và căn nhà cấp 4, các ao ươm, vèo tôm, ao lắng 4 gắn liền trên đất.

3. Về chi phí tố tụng: Ngân hàng Thương mại Cổ phần A đã nộp tạm ứng chi phí thẩm định tài sản 900.000 đồng, đã chi phí hết. Buộc bà Đinh Diễm Tr (hộ kinh doanh Đinh Diễm Tr) phải nộp 900.000 đồng để hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần A.

4. Về án phí: Buộc bà Đinh Diễm Tr (hộ kinh doanh Đinh Diễm Tr) phải nộp án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm có giá ngạch là 81.522.000 đồng.

Ngân hàng Thương mại Cổ phần A đã dự nộp tạm ứng án phí 36.415.000 đồng tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002767 ngày 22 tháng 11 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu được hoàn lại toàn bộ số tiền trên.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai, các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt, thời hạn được tính kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ