vanban.org

Bản án 01/2022/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” của bà Phan Thị H.

Tuyên bố ông Khúc Duy T, sinh năm 1967. Nơi cư trú cuối cùng: Tổ dân phố 4, thị trấn M, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng là mất tích. Lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà Phan Thị H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Bà H yêu cầu tuyên bố ông T mất tích"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” của bà Phan Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẠ HUOAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LÂM ĐỒNG
Số: 01/2022/QĐST-VDS
Đạ Huoai, ngày 09 tháng 3 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

Về việc: Tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠ HUOAI – TỈNH LÂM ĐỒNG

Thành phần giải quyết việc dân sự:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Đỗ Thị Vân Anh

Thư ký phiên họp: Bà Hồ Thị Quyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Quốc Huy - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 25/2021/TLST-VDS ngày 05 tháng 10 năm 2021 về yêu cầu “Tuyên bố một người mất tích”, theo Quyết định mở phiên họp số 01/2022/QĐPH- ST ngày 21 tháng 02 năm 2022.

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Phan Thị H, sinh năm: 1971. Địa chỉ: Tổ dân phố 4, thị trấn M, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. (Có đơn xin vắng mặt tại phiên họp).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Khúc Duy T, sinh năm 1967. Nơi cư trú cuối cùng: Tổ dân phố 4, thị trấn M, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ

Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự, lời khai của bà Phan Thị H thì: Bà Phan Thị H và ông Khúc Duy T đăng ký kết hôn năm 1999, tại Uỷ ban nhân dân thị trấn M, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Sau khi kết hôn, bà H và ông T cư trú và sinh sống tại tổ dân phố 4, thị trấn M, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Trong quá trình chung sống, giữa vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, ông T đánh con trai là Khúc Duy M chấn thương nên ngày 18/5/2015 ông T bỏ đi khỏi địa phương, không liên lạc gì về cho gia đình, cũng không thông báo với chính quyền địa phương. Bà H đã tìm kiếm ông T nhiều lần nhưng không có tin tức gì. Nay bà H yêu cầu tuyên bố ông Khúc Duy T mất tích.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Phan Thị H yêu cầu tuyên bố ông Khúc Duy T, sinh năm 1967. Nơi cư trú cuối cùng: Tổ dân phố 4, thị trấn M, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng mất tích. Bà H có đơn xin vắng mặt tại phiên họp. Căn cứ vào khoản 3 Điều 27, khoản 2 Điều 35, Điều 39 và Điều 367 của Bộ luật tố tụng dân sự vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng và Tòa án tiến hành mở phiên họp vắng mặt bà H.

Về nội dung vụ án: Bà Phan Thị H và ông Khúc Duy T đăng ký kết hôn năm 1999, tại Uỷ ban nhân dân thị trấn M, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Sau khi kết hôn, bà H và ông T cư trú và sinh sống tại tổ dân phố 4, thị trấn M, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể giải quyết. Ngoài ra, theo bà H trình bày thì ông T đánh con trai là Khúc Duy M gây chấn thương nên ngày 18/5/2015 ông T bỏ đi khỏi địa phương, không liên lạc gì về cho gia đình, cũng không thông báo với chính quyền địa phương. Bà H đã tìm kiếm ông T nhiều lần nhưng không có tin tức gì nên bà H yêu cầu tuyên bố ông Khúc Duy T mất tích. Bà H cung cấp tài liệu, chứng cứ là giấy xác nhận của Công an thị trấn M xác nhận ông T đã bỏ đi từ năm 2015 đến nay không trở về địa phương. Tòa án đã thông báo tìm kiếm ông T trên các phương tiện thông tin đài, báo, cổng thông tin điện tử, đã đủ thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo đầu tiên vẫn không thấy ông Ttrở về nên cần chấp nhận yêu cầu của bà Phan Thị H, tuyên bố ông Khúc Duy T là mất tích.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Đ phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, do dịch bệnh Covid - 19 diễn biến phức tạp, địa bàn huyện Đ bị áp dụng theo Chỉ thị số 16 ngày 31 tháng 3 năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ về các biện pháp cấp bách phòng, chống dịch Covid -19 nên việc xử lý đơn còn chậm. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, đề nghị Toà án chấp nhận yêu cầu của bà Phan Thị H, tuyên bố ông Khúc Duy T mất tích.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà Phan Thị H phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định.

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 3 Điều 27; điểm a, khoản 2, Điều 35; điểm b, khoản 2, Điều 39; các Điều 149, 367, 370, 371, 372, 388 và 389 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Chấp nhận “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” của bà Phan Thị H.

Tuyên bố ông Khúc Duy T, sinh năm 1967. Nơi cư trú cuối cùng: Tổ dân phố 4, thị trấn M, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng là mất tích.

2. Lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà Phan Thị H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000003 ngày 05 tháng 10 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Bà H đã nộp đủ lệ phí.

3. Quyết định này có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, thời hạn kháng cáo là 10 (mười) ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự./.

Cỡ chữ