- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án kinh doanh thương mại — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? ¸p dông §iÒu 357, 463, 466, 468, 470 BLDS năm 2015; §iÒu 30, 35, 39, 147 Bé luËt tè tông d©n sù; Điều 91; khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; NghÞ quyÕt sè 326/2016/UBTVQH14 ngµy 30/12/2016 cña ñy ban Thường vô Quèc héi vÒ møc thu, miÔn, gi¶m, thu, nép, qu¶n lý vµ sö dông …
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2022/KDTM - ST Ngày: 27/01/2022 V/v:” Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Anh Văn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Kiều Văn Dậu và Ông Nguyễn Văn Điều.
- Thư ký phiên toà: Bà Tạ Thị Bích Ngọc - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong tham gia phiên tòa: Bà Lưu Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 27/01/2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 112/2021/TLST-DS, ngày 06/8/2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 111/2021/QĐXXST-DS ngày 29/12/2021 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP xăng dầu Petrolimex.
Địa chỉ: Tầng 16,23,24 tòa nhà Mipec, 229 Tây Sơn, phường Ngã Tư Sở, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Quang Định, Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đặng Hải Bình, Giám đốc chi nhánh Bắc Ninh.
Người được ủy quyền lại:
1. Ông Đinh Tiên Hoàng, chuyên viên xử lý và thu hồi nợ. Có mặt.
2. Ông Trịnh Văn Hà, chuyên viên xử lý và thu hồi nợ. Có mặt.
3. Bà Nghiêm Thị Hà, chuyên viên tư vấn tài chính cá nhân. Vắng mặt.
Bị đơn: Anh Trương Đức Ph, sinh năm 1978 và chị Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1978. Vắng mặt.
Cùng trú tại: Thôn Phù Xá, xã Văn Môn, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Trương Đức Cừ, sinh năm 1972 và chị Trương Thị Hằng, sinh năm 1977. Vắng mặt.
2. Chị Trương Thị Thanh Thư, sinh năm 2001; Vắng mặt.
3. Chị Trương Thị Thanh Thảo, sinh năm 2002; Vắng mặt.
4. Anh Trương Đức Đa, sinh năm 1997; Vắng mặt.
5. Chị Trương Thị Điệp, sinh năm 2000; Vắng mặt.
Cùng trú tại: Thôn Phù Xá, xã Văn Môn, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 19/6/2017, Ngân hàng TMCP Xăng dầu Petrolimex và vợ chồng anh Trương Đức Ph, chị Nguyễn Thị Đ ký Hợp đồng tín dụng hạn mức số 225/2017/HĐHM/NH-TN/PGB-BN. Nội dung anh Ph, chị Đ vay Ngân hàng số tiền 1.500.000.000 đồng (Một tỷ năm trăm triệu đồng). Mục đích vay: Bổ sung vốn lưu động cho hoạt động sản xuất kinh doanh đồ gỗ mỹ nghệ. Thời hạn cấp hạn mức: 12 tháng, thời hạn cho vay theo khế ước nhận nợ. Lãi suất: Theo từng khế ước nhận nợ, có điều chỉnh lãi suất. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn.
Ngân hàng đã giải ngân theo 4 khế ước nhận nợ:
Khế ước nhận nợ số GO-03 HĐ 225/2017/HĐHM/NH-TN/PGB-BN ngày 16/3/2018, số tiền: 200.000.000 đồng, thời hạn vay 09 tháng, lãi suất tại thời điểm vay là 10,5%/năm.
Khế ước nhận nợ số GO-04 HĐ 225/2017/HĐHM/NH-TN/PGB-BN ngày 22/3/2018, số tiền: 300.000.000 đồng, thời hạn vay 09 tháng, lãi suất tại thời điểm vay là 10,5%/năm.
Khế ước nhận nợ số GO-05 HĐ 225/2017/HĐHM/NH-TN/PGB-BN ngày 26/3/2018, số tiền: 300.000.000 đồng, thời hạn vay 09 tháng, lãi suất tại thời điểm vay là 10,5%/năm.
Khế ước nhận nợ số GO-06 HĐ 225/2017/HĐHM/NH-TN/PGB-BN ngày 29/3/2018, số tiền: 650.000.000 đồng, thời hạn vay 09 tháng, lãi suất tại thời điểm vay là 10,5%/năm.
Ngân hàng đã gia hạn nợ của vợ chồng anh Ph, chị Đ 60 tháng từ ngày 01/7/2019 đến ngày 26/12/2023 theo cơ cấu gốc và lãi như Bản phê duyệt gia hạn nợ của Ngân hàng TMCP Xăng dầu Petrolimex.
Tài sản đảm bảo cho khoản vay trên:
1. Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 257, tờ bản đồ số 03, diện tích 154m2 tại thôn Phù Xá, xã Văn Môn, huyện Yên Ph, tỉnh Bắc Ninh đã được UBND huyện Yên Ph cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) số S 870859 ngày 20/6/2001 cho hộ ông Trương Đức Huỳnh. Ngày 14/12/2015 để thừa kế cho anh Trương Đức Ph theo hồ sơ số 09238.696.TK.
2. Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 87, tờ bản đồ số 03, diện tích 153m2 tại thôn Phù Xá, xã Văn Môn, huyện Yên Ph, tỉnh Bắc Ninh đã được UBND huyện Yên Ph cấp GCNQSDĐ số R 489849 ngày 06/10/2000 cho hộ ông Trương Đức Hữu. Ngày 14/12/2015 chuyển nhượng cho anh Trương Đức Cừ và chị Trương Thị Hằng theo hồ sơ số 09238.695.CN.
Quá trình thực hiện hợp đồng, anh Ph chị Đ đã trả Ngân hàng: Gốc: 54.018.708 đồng; lãi: 110.103.561 đồng. Tổng 164.122.269 đồng.
Từ ngày 30/6/2020, anh Ph chị Đ vi phạm nghĩa vụ và toàn bộ số nợ đã chuyển sang quá hạn.
Tính đến ngày 27/01/2022, anh Ph, chị Đ còn nợ Ngân hàng TMCP Xăng dầu Petrolimex: Gốc: 1.381.481.292 đồng; lãi trong hạn: 385.112.061 đồng; lãi quá hạn: 80.835.874 đồng. Tổng: 1.847.429.227 đồng.
Nay ngân hàng yêu cầu anh Trương Đức Ph, chị Nguyễn Thị Đ phải trả cho Ngân hàng tính đến ngày 27/01/2022 số tiền nêu trên. Nếu anh Ph, chị Đ trả hết số nợ gốc và lãi cho Ngân hàng thì Ngân hàng sẽ trả cho anh Ph, chị Đ 02 GCNQSDĐ đã thế chấp tại Ngân hàng. Trường hợp anh Ph, chị Đ không trả nợ thì Ngân hàng có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mại tài sản mà anh Ph, chị Đ, anh Cừ, chị Hằng đã thế chấp để thu hồi toàn bộ khoản nợ.
Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản đảm bảo được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của anh Ph, chị Đ đối với Ngân hàng. Nếu xử lý tài sản thế chấp không đủ để trả nợ cho Ngân hàng thì anh Ph, chị Đ tiếp tục trả số tiền còn thiếu cho Ngân hàng.
Bị đơn - Anh Trương Đức Ph, chị Nguyễn Thị Đ vắng mặt tại phiên tòa nhưng qua lời khai có trong hồ sơ thể hiện: Anh chị thừa nhận nội dung trình bày của đại diện Ngân hàng TMCP xăng dầu Petrolimex về khoản tiền vay, thời điểm vay, mức lãi suất, tài sản thế chấp, số tiền gốc, số tiền lãi còn nợ như Ngân hàng trình bày và yêu cầu là đúng. Do việc làm ăn có khó khăn nên không có khả năng trả nợ theo đúng hạn đã thỏa thuận. Nay Ngân hàng yêu cầu trả toàn bộ tiền nợ gốc và lãi thì anh chị đồng ý nhưng xin khất trả dần. Trường hợp không trả được nợ anh chị đồng ý phát mại tài sản đã thế chấp để thực hiện nghĩa vụ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Chị Trương Thị Hằng vắng mặt tại phiên tòa nhưng qua lời khai có trong hồ sơ thể hiện: Chị thừa nhận nội dung trình bày của đại diện Ngân hàng TMCP xăng dầu Petrolimex và anh Trương Đức Ph là đúng. Vợ chồng anh chị đã dùng toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 87, tờ bản đồ số 03, diện tích 153m2 tại thôn Phù Xá, xã Văn Môn, huyện Yên Ph, tỉnh Bắc Ninh đã được UBND huyện Yên Ph cấp GCNQSDĐ số R 489849 ngày 06/10/2000 cho hộ ông Trương Đức Hữu, ngày 14/12/2015 chuyển nhượng cho anh Trương Đức Cừ và chị Trương Thị Hằng theo hồ sơ số 09238.695.CN để thế chấp đảm bảo cho khoản vay của anh Ph, chị Đ. Sau khi vay, vợ chồng anh chị không được sử dụng bất kỳ một đồng vốn nào. Nay Ngân hàng yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng anh Ph, chị Đ phải trả nợ thì quan điểm của chị là: Anh Ph, chị Đ nợ thì phải có trách nhiệm trả Ngân hàng. Trường hợp không trả được nợ thì vợ chồng anh Cừ, chị Hằng đồng ý để các cơ quan có thẩm quyền phát mại tài sản mà gia đình anh chị đã thế chấp để thực hiện nghĩa vụ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Anh Trương Đức Cừ, chị Trương Thị Thanh Thư, chị Trương Thị Thanh Thảo, anh Trương Đức Đa, chị Trương Thị Điệp đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt.
Tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Yên Ph phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật, phía bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không chấp hành đúng quy định của pháp luật. Về quan hệ pháp luật tranh chấp đề nghị Hội đồng xét xử xác định lại, trong trường hợp này là vụ án kinh doanh thương mại mới đúng quy định của pháp luật.
Về đường lối giải quyết vụ án: Áp dụng §iÒu 357, 463, 466, 468, 470 BLDS năm 2015; §iÒu 30, 35, 39, 147 Bé luËt tè tông d©n sù; Điều 91; khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP xăng dầu Petrolimex. Buộc anh Trương Đức Ph, chị Nguyễn Thị Đ phải trả cho Ngân hàng số tiền tính đến ngày 27/01/2022, anh Ph, chị Đ còn nợ Ngân hàng TMCP Xăng dầu Petrolimex: Gốc: 1.381.481.292 đồng; lãi trong hạn: 385.112.061 đồng; lãi quá hạn: 80.835.874 đồng. Tổng: 1.847.429.227 đồng.
Trường hợp Ph, chị Đ không trả tiền cho Ngân hàng, Ngân hàng có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành phát mại tài sản đã thế chấp để thu hồi nợ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Ngân hàng TMCP xăng dầu Petrolimex khởi kiện đối với anh Trương Đức Ph, chị Nguyễn Thị Đ thuộc quan hệ pháp luật “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Khi thụ lý vụ án phía nguyên đơn giao nộp giấy đăng ký kinh doanh của bị đơn nên thuộc quan hệ tranh chấp kinh doanh thương mại quy định tại khoản 1 Điều 30 BLTTDS, tuy nhiên Tòa án thụ lý vụ án thuộc quan hệ tranh chấp về dân sự là chưa chính xác. Anh Ph, chị Đ cư trú tại huyện Yên Ph, tỉnh Bắc Ninh, do vậy theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Yên Ph, tỉnh Bắc Ninh.
Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Anh Ph, chị Đ, anh Cừ, chị Hằng, chị Thư, chị Thảo, anh Đa, chị Điệp đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng cố tình vắng mặt. Tòa án niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật. Vì vậy coi như bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan từ bỏ quyền, nghĩa vụ của mình. Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là đúng quy định pháp luật.
Về nội dung vụ án:
Xét Hợp đồng tín dụng hạn mức số 5012.01/19MB/HĐTD và Hợp đồng tín dụng số 225/2017/HĐHM/NH-TN/PGB-BN ký ngày 19/6/2017giữa Ngân hàng TMCP xăng dầu Petrolimex và anh Trương Đức Ph, chị Nguyễn Thị Đ thì thấy:
Về hình thức của hợp đồng tín dụng: Hợp đồng được ký kết bằng văn bản giữa đại diện Ngân hàng với anh Ph, chị Đ là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với pháp luật, đảm bảo đúng các điều kiện về chủ thể theo quy định của pháp luật.
Về nội dung hợp đồng: Ngày 19/6/2017, Ngân hàng TMCP Xăng dầu Petrolimex và vợ chồng anh Trương Đức Ph, chị Nguyễn Thị Đ ký Hợp đồng tín dụng hạn mức số 225/2017/HĐHM/NH-TN/PGB-BN. Nội dung anh Ph, chị Đ vay Ngân hàng số tiền 1.500.000.000 đồng (Một tỷ năm trăm triệu đồng). Mục đích vay: Bổ sung vốn lưu động cho hoạt động sản xuất kinh doanh đồ gỗ mỹ nghệ. Thời hạn cấp hạn mức: 12 tháng, thời hạn cho vay theo khế ước nhận nợ. Lãi suất: Theo từng khế ước nhận nợ, có điều chỉnh lãi suất. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn.
Ngân hàng đã giải ngân theo 4 khế ước nhận nợ:
Khế ước nhận nợ số GO-03 HĐ 225/2017/HĐHM/NH-TN/PGB-BN ngày 16/3/2018, số tiền: 200.000.000 đồng, thời hạn vay 09 tháng, lãi suất tại thời điểm vay là 10,5%/năm.
Khế ước nhận nợ số GO-04 HĐ 225/2017/HĐHM/NH-TN/PGB-BN ngày 22/3/2018, số tiền: 300.000.000 đồng, thời hạn vay 09 tháng, lãi suất tại thời điểm vay là 10,5%/năm.
Khế ước nhận nợ số GO-05 HĐ 225/2017/HĐHM/NH-TN/PGB-BN ngày 26/3/2018, số tiền: 300.000.000 đồng, thời hạn vay 09 tháng, lãi suất tại thời điểm vay là 10,5%/năm.
Khế ước nhận nợ số GO-06 HĐ 225/2017/HĐHM/NH-TN/PGB-BN ngày 29/3/2018, số tiền: 650.000.000 đồng, thời hạn vay 09 tháng, lãi suất tại thời điểm vay là 10,5%/năm.
Ngân hàng đã gia hạn nợ của vợ chồng anh Ph, chị Đ 60 tháng từ ngày 01/7/2019 đến ngày 26/12/2023 theo cơ cấu gốc và lãi như Bản phê duyệt gia hạn nợ của Ngân hàng TMCP Xăng dầu Petrolimex.
Tài sản đảm bảo cho khoản vay trên:
1. Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 257, tờ bản đồ số 03, diện tích 154m2 tại thôn Phù Xá, xã Văn Môn, huyện Yên Ph, tỉnh Bắc Ninh đã được UBND huyện Yên Ph cấp GCNQSDĐ số S 870859 ngày 20/6/2001 cho hộ ông Trương Đức Huỳnh. Ngày 14/12/2015 để thừa kế cho anh Trương Đức Ph theo hồ sơ số 09238.696.TK. Ngân hàng và anh Ph, chị Đ đã ký Hợp đồng thế chấp số 163/2015/HĐTC/PGB-BN ngày 24/12/2015 tại Văn phòng công chứng Kinh Bắc, tỉnh Bắc Ninh.
2. Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 87, tờ bản đồ số 03, diện tích 153m2 tại thôn Phù Xá, xã Văn Môn, huyện Yên Ph, tỉnh Bắc Ninh đã được UBND huyện Yên Ph cấp GCNQSDĐ số R 489849 ngày 06/10/2000 cho hộ ông Trương Đức Hữu. Ngày 14/12/2015 chuyển nhượng cho anh Trương Đức Cừ và chị Trương Thị Hằng theo hồ sơ số 09238.695.CN. Ngân hàng và anh Cừ, chị Hằng đã ký Hợp đồng thế chấp số 140/2017/HĐTC/PGB-BN ngày 19/6/2017 tại văn phòng công chứng Kinh Bắc, tỉnh Bắc Ninh.
Việc thế chấp đều đảm bảo đúng quy định pháp luật.
Quá trình thực hiện hợp đồng, anh Ph chị Đ đã trả Ngân hàng: Gốc: 54.018.708 đồng; lãi: 110.103.561 đồng. Tổng 164.122.269 đồng.
Từ ngày 30/6/2020, anh Ph chị Đ vi phạm nghĩa vụ và toàn bộ số nợ đã chuyển sang quá hạn.
Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng xăng dầu Petrolimex yêu cầu anh Ph, chị Đ phải trả số nợ tổng cộng cả gốc và lãi Tính đến ngày 27/01/2022, tiền nợ gốc: 1.381.481.292 đồng; lãi trong hạn: 385.112.061 đồng; lãi quá hạn: 80.835.874 đồng. Tổng: 1.847.429.227 đồng là có căn cứ được chấp nhận.
Nếu anh Ph, chị Đ không trả được nợ thì Ngân hàng TMCP xăng dầu Petrolimex có quyền yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền kê biên phát mại tài sản mà anh Ph, chị Đ, anh Cừ, chị Hằng đã thế chấp theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Anh Ph, chị Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả Ngân hàng TMCP xăng dầu Petrolimex số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Về chi phí xem xét thẩm định tài sản: Anh Ph, chị Đ phải chịu chi phí xem xét thẩm định tài sản. Xác nhận Ngân hàng TMCP xăng dầu Petrolimex đã nộp 10.000.000 đồng tiền tạm ứng chi phí xem xét thẩm định. Anh Ph và chị Đ phải trả cho Ngân hàng TMCP xăng dầu Petrolimex 10.000.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
¸p dông §iÒu 357, 463, 466, 468, 470 BLDS năm 2015; §iÒu 30, 35, 39, 147 Bé luËt tè tông d©n sù; Điều 91; khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; NghÞ quyÕt sè 326/2016/UBTVQH14 ngµy 30/12/2016 cña ñy ban Thường vô Quèc héi vÒ møc thu, miÔn, gi¶m, thu, nép, qu¶n lý vµ sö dông ¸n phÝ vµ lÖ phÝ Tßa ¸n.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP xăng dầu Petrolimex.
1. Buộc anh Trương Đức Ph, chị Nguyễn Thị Đ phải trả cho Ngân hàng TMCP xăng dầu Petrolimex số tiền tính đến ngày 27/01/2022: Tiền nợ gốc: 1.381.481.292 đồng; lãi trong hạn: 385.112.061 đồng; lãi quá hạn: 80.835.874 đồng. Tổng: 1.847.429.227 đồng (Một tỷ tám trăm bốn bảy triệu bốn trăm hai chín ngàn hai trăm hai bảy đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, Ngân hàng TMCP xăng dầu Petrolimex có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh Ph, chị Đ không trả khoản tiền nêu trên thì hàng tháng anh Ph, chị Đ phải tiếp tục trả tiền lãi theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ và theo quy định của pháp luật của số tiền nợ gốc tính từ ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.
Nếu anh Ph, chị Đ trả hết số nợ gốc và lãi cho Ngân hàng thì Ngân hàng sẽ trả cho anh Ph, chị Đ, anh Cừ, chị Hằng:
- 01 GCNQSDĐ số S 870859, vào sổ cấp GCNQSDĐ số 01618 QSDĐ/QĐ số 272 đối với thửa đất số 257, tờ bản đồ số 03, diện tích 154m2 (nay là thửa đất số 130, tờ bản đồ 14, diện tích 155m2) tại thôn Phù Xá, xã Văn Môn, huyện Yên Ph, tỉnh Bắc Ninh đã được UBND huyện Yên Ph cấp ngày 20/6/2001 cho hộ ông Trương Đức Huỳnh. Ngày 14/12/2015 để thừa kế cho anh Trương Đức Ph theo hồ sơ số 09238.696.TK.
- 01 GCNQSDĐ số R 489849, vào sổ cấp GCNQSDĐ số 01360 QSDĐ/391 đối với thửa đất số 87, tờ bản đồ số 03, diện tích 153m2 (nay là thwuar đất số 31, tờ bản đồ 14, diện tích 179m2) tại thôn Phù Xá, xã Văn Môn, huyện Yên Ph, tỉnh Bắc Ninh đã được UBND huyện Yên Ph cấp GCNQSDĐ ngày 06/10/2000 cho hộ ông Trương Đức Hữu. Ngày 14/12/2015 chuyển nhượng cho anh Trương Đức Cừ và chị Trương Thị Hằng theo hồ sơ số 09238.695.CN.
Trường hợp anh Ph, chị Đ không trả nợ thì Ngân hàng có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mại tài sản mà anh Ph, chị Đ, anh Cừ, chị Hằng đã thế chấp là:
Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 257, tờ bản đồ số 03, diện tích 154m2 tại thôn Phù Xá, xã Văn Môn, huyện Yên Ph, tỉnh Bắc Ninh đã được UBND huyện Yên Ph cấp GCNQSDĐ số S 870859 ngày 20/6/2001 cho hộ ông Trương Đức Huỳnh. Ngày 14/12/2015 để thừa kế cho anh Trương Đức Ph theo hồ sơ số 09238.696.TK.
Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 87, tờ bản đồ số 03, diện tích 153m2 tại thôn Phù Xá, xã Văn Môn, huyện Yên Ph, tỉnh Bắc Ninh đã được UBND huyện Yên Ph cấp GCNQSDĐ số R 489849 ngày 06/10/2000 cho hộ ông Trương Đức Hữu. Ngày 14/12/2015 chuyển nhượng cho anh Trương Đức Cừ và chị Trương Thị Hằng theo hồ sơ số 09238.695.CN.
Để thu hồi toàn bộ khoản nợ của anh Ph, chị Đ đối với Ngân hàng.
Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản đảm bảo được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của anh Ph, chị Đ đối với Ngân hàng. Nếu xử lý tài sản thế chấp không đủ để trả nợ cho Ngân hàng thì anh Ph, chị Đ tiếp tục trả số tiền còn thiếu cho Ngân hàng.
2. Về án phí: Anh Ph, chị Đ phải chịu 67.422.876 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả Ngân hàng TMCP xăng dầu Petrolimex 30.510.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001242 ngày 04/8/2021 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Ph.
3. Về chi phí xem xét thẩm định tài sản: Anh Ph, chị Đ phải chịu chi phí xem xét thẩm định tài sản là 10.000.000 đồng. Anh Ph và chị Đ phải trả cho Ngân hàng TMCP xăng dầu Petrolimex 10.000.000 đồng.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thỡ người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự;
Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./. Nơi nhận:
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND, VKSND tỉnh.
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà
- VKSND huyện YP;
- Thi hành án huyện YP;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ, VP.
Nguyễn Anh Văn THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Kiều Văn Dậu Nguyễn Văn Điều
Nguyễn Anh Văn Nơi nhận:
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND, VKSND tỉnh.
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà
- VKSND huyện YP;
- Thi hành án huyện YP;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ, VP.
Nguyễn Anh Văn THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Kiều Văn Dậu Nguyễn Văn Điều
Nguyễn Anh Văn
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh. - VKSND huyện YP; - Thi hành án huyện YP; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, VP. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Nguyễn Anh Văn |