vanban.org

Bản án 01/2022/KDTM-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam TV (VPBANK).

Buộc Công ty TNHH INOX VT có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam TV (VPBANK) tổng số tiền 7.684.821.164 đ (bảy tỷ sáu trăm tám mươi bốn triệu tám trăm hai mươi mốt ngàn một trăm sáu mươi bốn dồng). Trong đó: -Nợ gốc hợp đồng tín dụng : 4,448,005,627 đồng Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án kinh doanh thương mại — "NH Việt Nam Thịnh Vượng - Công ty TNHH INOX Việt Thịnh"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam TV (VPBANK).
  • Căn cứ chính? Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÓC MÔN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 01/2022/KDTM-ST
Ngày: 07-01-2022
V/v Tranh chấp hợp đồng Tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN- THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Nga

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm

2/ Bà Lê Thị Khanh

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hiếu Hạnh–Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh Thương Mại thụ lý số: 58/2020/TLST-KDTM ngày 03 tháng 8 năm 2020 về việc “Tranh chấp hợp đồng Tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 238/2021/QĐST-KDTM ngày 13 tháng12 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 232/2021/QĐST-KDTM ngày 31 tháng 12 năm 2021 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Việt Nam TV

Địa chỉ: Láng Hạ, Phường Láng Hạ, Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Thành Trung- Chức vụ: Phó Giám đốc trung tâm xử lý nợ pháp lý.

Người được ủy quyền: ông Nguyễn Trung T- chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ.(văn bản ủy quyền số 7066/2021/UQ-PGD ngày 20 tháng 10 năm 2021)

Bị đơn: Công ty TNHH INOX VT; Địa chỉ: 1/41 ấp Nam Lân, xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn, TP Hồ Chí Minh

Người đại diện theo pháp luật ông Nguyễn Trung T, sinh năm 1971; địa chỉ: YY ấp Nam Lân, xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn, TP Hồ Chí Minh - Chức vụ: Giám đốc Công ty (có đơn xin vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Nguyễn Cao Bình Hoàng T, sinh năm 1976. Địa chỉ: Số AA TĐ, Phường 10, Quận 5, Tp Hồ Chí Minh (có đơn xin vắng mặt)

Bà Lâm Mỹ T, sinh năm 1974; địa chỉ: ZZ ĐT, phường 6, Quận Tân Bình, Tp Hồ Chí Minh (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 06 tháng 6 năm 2020 nguyên đơn Ngân hàng TMCP Việt Nam TV và trong suốt quá trình tố tụng Người được ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Trung T trình bày:

Công ty INOX VT, người đại diện theo pháp luật ông Nguyễn Trung T-Giám đốc- có vay Ngân hàng Việt Nam TV Chi nhánh Sài Gòn theo Hợp đồng tín dụng số SME/SGN/19/0081/HĐHM ngày 10-7-2019 vay số tiền chia thành 06 khế ước:

Lần 1: Số hợp đồng SME/SGN/19/0081/HĐHM-01 ngày 10-7-2019 số tiền vay 2.521.246.200đ với thời hạn 12 tháng lãi suất 18%/năm cố định trong vòng một tháng sau đó sẽ điều chỉnh định kỳ một tháng một lần

Lần 2: Số hợp đồng SME/SGN/19/0081/HĐHM-02 ngày 05-8-2019 số tiền vay 171.837.500đ với thời hạn 12 tháng lãi suất 18%/năm cố định trong vòng một tháng sau đó sẽ điều chỉnh định kỳ một tháng một lần

Lần 3: Số hợp đồng SME/SGN/19/0081/HĐHM-03 ngày 13-8-2019 số tiền vay 356.097.650đ với thời hạn 12 tháng lãi suất 18%/năm cố định trong vòng một tháng sau đó sẽ điều chỉnh định kỳ một tháng một lần

Lần 4: Số hợp đồng SME/SGN/19/0081/HĐHM-04 ngày 28-8-2019 số tiền vay 1.423.668.127đ với thời hạn 12 tháng lãi suất 18%/năm cố định trong vòng một tháng sau đó sẽ điều chỉnh định kỳ một tháng một lần

Lần 5: Số hợp đồng SME/SGN/19/0081/HĐHM-05 ngày 11-9-2019 số tiền vay 491.458.223 với thời hạn 12 tháng lãi suất 18%/năm cố định trong vòng một tháng sau đó sẽ điều chỉnh định kỳ một tháng một lần

Lần 6: Số hợp đồng SME/SGN/19/0081/HĐHM-06 ngày 11-10-8-2019 số tiền vay 361.909.477 đ với thời hạn 12 tháng lãi suất 18%/năm cố định trong vòng một tháng sau đó sẽ điều chỉnh định kỳ một tháng một lần.

Mục đích của các khoản vay: Bổ sung vốn lưu động, phát hành và thanh toán LC phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh buôn bán kim loại, chi tiết bán buôn sắt thép, thép không gỉ, Inox, nhôm, đồng..

Ngoài ra, Công ty Inox VT còn ký Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ không có tài sản đảm bảo ngày 11/6/2012.Hạn mức thẻ tín dụng là 100.000.000 đồng.Mở thẻ ngày 12/6/2018, thời hạn duy trì hạn mức là 60 tháng. Mục đích bổ sung vốn lưu động phục vụ hoạt động kinh doanh.

Khoản vay này được bảo lãnh bằng toàn bộ tài sản cá nhân của ông Nguyễn Trung T theo Hợp đồng bảo lãnh số SME/SGN/19/0081/HĐBL.01 ngày 10-7-2019. Trong quá trình sử dụng vốn vay Công ty TNHH INOX VT đã thanh toán cho Ngân hàng VBBank theo khế ước nhận nợ nêu trên tổng số tiền là: 1.035.931.125 đồng, trong đó tiền gốc đã thanh toán được là 878.211.550 đồng và tiền lãi đã đóng được là: 157.719.575 đồng.Thanh toán nợ thẻ tín dụng số tiền 93.678.847 đồng. Tổng cộng số tiền đã thanh toán đối với các hợp đồng nêu trên là: 1.129.610.972 (một tỷ một trăm hai mươi chín triệu sáu trăm mười nghìn chín trăm bảy mươi hai) đồng.

Kể từ thời điểm quá hạn cho đến nay Công ty TNHH INOX VT đã không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng VPBank. Ngân hàng VPBank đã nhiều lần liên hệ và làm việc Công ty TNHH INOX VT và người bảo lãnh để yêu cầu hoàn trả nợ vay nhưng Công ty TNHH INOX VT và người bảo lãnh cố tình kéo dài thời gian nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng.

Nay Ngân hàng yêu cầu: Công ty TNHH INOX VT phải trả ngay một lần cho VPBank tổng số nợ còn thiếu tạm tính đến hết ngày 07/01/2022 là:

Nợ gốc hợp đồng tín dụng : 4,448,005,627 đồng

Nợ lãi hợp đồng tín dụng : 3,029,551,012 đồng

Nợ gốc thẻ tín dụng

: 96,446,060 đồng

Nợ lãi thẻ tín dụng

: 110,818,465 đồng

Tổng cộng

: 7,684,821,164 đồng

(Bằng chữ: Bảy tỷ sáu trăm tám mươi bốn triệu tám trăm hai mươi mốt nghìn một trăm sáu mươi bốn đồng)

Trước đây, trong đơn khởi kiện Ngân hàng yêu cầu ông Nguyễn Cao Bình Hoàng T là người ký bảo đảm tài sản cùng ông T thanh toán khoản nợ trên, nhưng nay Ngân hàng rút yêu cầu khởi kiện đối với ông Nguyễn Cao Bình Hoàng T. Ngân hàng cũng không yêu cầu bà Lâm Mỹ T (vợ ông T) cùng chịu trách nhiệm thanh toán nợ.

Tại bản tự khai và quá trình làm việc tại Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn ông Nguyễn Trung T trình bày: Thống nhất khoản vay của Ngân hàng trình bày. Ông đồng ý và cam kết đảm bảo thanh toán nợ cho Ngân hàng bằng hai tài sản của ông là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất như sau:

Phần đất diện tích 268,8m2 thửa đất 565 tờ bản đồ số 56 tọa lạc tại XX ấp 7 xã Xuân Thới Thượng, huyện Hóc Môn do UBND huyện Hóc Môn cấp cho Võ Tấn Th và Trần Thị H cập nhật biến động cho Nguyễn Trung T và Lâm Mỹ T ngày 02-7-2019

Phần đất diện tích 542,7m2 thửa đất 770 tờ bản đồ số 28 tọa lạc tại xã Xuân Thới Thượng, huyện Hóc Môn do UBND huyện Hóc Môn cấp cho Trương Thị Hồng H và Nguyễn Thanh H cập nhật biến động cho Nguyễn Trung T và Lâm Mỹ T ngày 04-3-2019

Đối với hợp đồng bảo lãnh của ông T thì theo ông và ông T cùng ông ký hợp đồng trước mặt Ngân hàng, nhưng kết quả giám định chữ ký chữ viết không phải của ông T trong Hợp đồng bảo lãnh của ông Nguyễn Cao Bình Hoàng T theo Hợp đồng bảo lãnh số FME/ SGN/19/0081/HĐBL.02 ngày 10-7-2019 thì ông không khiếu nại, ông sẽ khởi kiện ông T trong vụ án khác. Ngoài ra ông và bà Trà không còn tài sản nào khác

Bà Lâm Mỹ T trình bày: Bà là vợ của ông T nhưng đã ly hôn có Quyết định thuận tình ly hôn 1224/2019 ngày 17-12-2019 của Tòa án nhân dân Quận Tân Bình. Hiện nay tài sản là quyền sử dụng đất bà đứng tên chung với ông T bà giao toàn bộ tài sản cho ông T để ông T trả nợ cho các Ngân hàng mà ông T nợ. Bà không tranh chấp cũng như không có yêu cầu chia tài sản. Ngoài hai tài sản này bà không có tài sản nào khác. Bà không có ý kiến gì cũng như khi xử lý tài sản để đảm bảo khoản nợ bà cũng đồng ý.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn phát biểu ý kiến như sau:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 30, Điều 35, Điều 39 về thẩm quyền thụ lý vụ án, xác định tư cách pháp lý và mối quan hệ của những người tham gia tố tụng, chấp hành đúng thời hạn gửi các văn bản tố tụng và hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nghiên cứu, chấp hành đúng quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự.Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Các đương sự đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ được quy định tại các Điều 68, Điều 70, Điều 71, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 280 Bộ luật Dân sự 2015 và căn cứ vào Điều 24, Điều 50, Điều 306 Luật Thương mại năm 2005 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.

Đối với bị đơn là Công ty TNHH INOX VT, do ông Nguyễn Trung T làm Giám đốc, quá trình giải quyết vụ án ông T có đơn xin giải quyết vắng mặt, đơn ông T viết và nộp tại Tòa án hợp lệ. Ông Nguyễn Cao Bình Hoàng T có đơn xin vắng mặt. Do đó, căn cứ vào Điều 228, 239 Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt ông T, ông T là phù hợp

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án:

2.1 Ngân hàng Việt Nam TV (VPBank) khởi kiện Công ty Inox VT liên quan đến việc hợp đồng tín dụng nên quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng Tín dụng”, tranh chấp này phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại giữa các tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận, căn cứ Khoản 1 Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

2.2 Bị đơn là Công ty Inox VT có địa chỉ trụ sở tại huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh, căn cứ Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Việt Nam TV: Tại các bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa đại diện nguyên đơn yêu cầu phía Công ty Inox VT phải trả số tiền 7.684.821.164 đồng và tiếp tục trả tiền lãi theo quy định của pháp luật. Xét thấy, Hợp đồng tín dụng số Hợp đồng tín dụng số SME/SGN/19/0081/HĐHM ngày 10-7-2019, Hợp đồng bảo lãnh số SME/SGN/19/0081/HĐBL.01 ngày 10-7-2019; Khế ước nhận nợ ngày 10/7/2019 được ký giữa Ngân hàng Việt Nam TV (VPBank) với ông Nguyễn Trung T chứng cứ do nguyên đơn cung cấp được ông T thừa nhận, ông Nguyễn Trung T thống nhất các khoản vay và tiền lãi theo yêu cầu của Ngân hàng, đồng ý thanh toán nợ cho Ngân hàng; Tuy nhiên, giữa ông T và Ngân hàng chưa thông nhất được thời gian thanh toán. Do đó, cần buộc Công ty Inox VT có nghĩa vụ thanh toán số tiền gốc và lãi cho Ngân hàng VPBank với số tiền 7.684.821.164 đồng là có cơ sở.

Yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng VPBank đối với ông Nguyễn Cao Bình Hoàng T: Ngân hàng VPBank yêu cầu ông T cùng có nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trên cùng với ông Nguyễn Trung T theo Hợp đồng bảo lãnh số SME/SGN/19/0081/HĐBL.02 ngày 10-7-2019. Quá trình giải quyết vụ án ông Nguyễn Cao Bình Hoàng T không đồng ý cùng ông T có nghĩa vụ thanh toán khoản vay trên, ông không thừa nhận chữ kỹ trong Hợp đồng Bảo lãnh số SME/SGN/19/0081/HĐBL.02 ngày 10-7-2019 là do ông ký và viết.Ông T yêu cầu giám định. Tại Kết luận Giám định số 1727 ngày 24/12/2020 của Phân viện Khoa học Hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:Chữ ký trong Hợp đồng bảo lãnh SME/SGN/19/0081/HĐBL.02 ngày 10-7-2019 giữa ông Nguyễn Cao Bình Hoàng T với Ngân hàng VPBank không phải do ông T ký và viết ra. Nên, không có cơ cở xác định ông T đã ký Hợp đồng bảo lãnh khoản vay của Công ty Inox VT với Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vương. Do đó, không có căn cứ chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP Việt Nam TV yêu cầu ông T thực hiện nghĩa vụ như thỏa thuận theo Hợp đồng bảo lãnh. Tuy nhiên; Tại phiên tòa, đại diện Ngân hàng Việt Nam TV rút phần yêu cầu đối với ông Nguyễn Cao Bình Hoàng T, không yêu cầu ông T cùng ông T có nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nên Hội đồng xét xử Quyết định đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Việt Nam TV đối với ông Nguyễn Cao Bình Hoàng T là phù hợp.

Đối với bà Lâm Mỹ T vợ ông T, Ngân hàng TMCP Việt Nam TV không yêu cầu bà T cùng có nghĩa vụ thanh toán nợ cho Ngân hàng nên ghi nhận.

Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí trên số tiền gốc và lãi phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP Việt Nam TV theo quy định của pháp luật, nguyên đơn không phải chịu án phí

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

-Áp dụng Khoản 1 Điều 30, Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39, Điều 203, Điều 228;238; 239; 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

-Áp dụng Điều 339, Điều 342 Bộ luật dân sự năm 2015;

-Áp dụng Khoản 2 Điều 91 Luật tổ chức tín dụng năm 2010 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);

-Áp dụng Điều 24, Điều 50, Điều 306 Luật Thương Mại;

-Áp dụng Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi , bổ sung năm 2014);

Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam TV (VPBANK).

Buộc Công ty TNHH INOX VT có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam TV (VPBANK) tổng số tiền 7.684.821.164 đ (bảy tỷ sáu trăm tám mươi bốn triệu tám trăm hai mươi mốt ngàn một trăm sáu mươi bốn dồng).

Trong đó: -Nợ gốc hợp đồng tín dụng : 4,448,005,627 đồng

- Nợ lãi hợp đồng tín dụng : 3,029,551,012 đồng

- Nợ gốc thẻ tín dụng

: 96,446,060 đồng

- Nợ lãi thẻ tín dụng

: 110,818,465 đồng

Kể từ ngày 07-01-2022 Công ty TNHH INOX VT tiếp tục chịu lãi quá hạn theo hợp đồng tín dụng đã ký nêu trên cho đến khi thanh toán xong số nợ cho VPBANK. Thi hành một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

Trường hợp Công ty TNHH INOX VT không thực thiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ như trên thì ông Nguyễn Trung T phải có nghĩa vụ thanh toán toàn bộ số nợ còn thiếu cho Ngân hàng TMCP Việt Nam TV theo Hợp đồng bảo lãnh số Hợp đồng bảo lãnh số SME/SGN/19/0081/HĐBL.01 ngày 10-7-2019 được ký kết giữa ông Nguyễn Trung T Công ty TNHH INOX VT và Ngân hàng VPBank.

Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Việt Nam TV đối với ông Nguyễn Cao Bình Hoàng T.

Ghi nhận Ngân hàng TMCP Việt Nam TV không yêu cầu bà Lâm Mỹ T (vợ ông T) có nghĩa vụ thanh toán khoản nợ gốc và lãi cùng ông Nguyễn Trung T theo Hợp đồng tín dụng số SME/SGN/19/0081/HĐHM ngày 10-7-2019.

2/ Về Án phí: Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 115.684.821 đ (một trăm mười lăm triệu sáu trăm tám mươi bốn ngàn tám trăm hai mươi mốt đồng), Công ty TNHH INOX VT phải chịu. Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

- Hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam TV (VPBANK) toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 56.617.295đ (năm mươi sáu triệu sáu trăm mười bảy nghìn hai trăm chín mươi lăm đồng) theo biên lai số AA/2019/0076149 ngày 03/8/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ tuyên án sơ thẩm. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ