vanban.org

Bản án 01/2022/KDTM-PT — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND tỉnh Gia Lai Tuyên án 11/01/2022 Kinh doanh thương mại Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 11/01/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Sửa Bản án sơ thẩm số 03/2021/KDTM -ST ngày 13 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai; công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau:

Tổng số tiền mà ông Bùi Kim T và bà Dương Thị D phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu cả gốc và lãi là 2.627.656.188 đồng (Hai tỷ, sáu trăm hai mươi bảy triệu, sáu trăm năm mươi sáu nghìn, một trăm tám mươi tám đồng). Trong đó tiền gốc là 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng) và tiền lãi tính … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án kinh doanh thương mại — "Ngân hàng TMCP Á Châu khởi kiện ông Bùi Kim T và bà Dương Thị D"
  • Tòa quyết gì? Sửa Bản án sơ thẩm số 03/2021/KDTM -ST ngày 13 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai; công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau:
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 01/2022/KDTM-PT
Ngày 11/01/2022
“V/v tranh chấp hợp đồng
tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lưu Anh Tuấn.

Các Thẩm phán: 1. Ông Nguyễn Văn Sinh;

2. Ông Phan Tiến Dũng.

- Thư ký phiên toà: Bà Phan Minh Chiến - Thư ký Tòa án của Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 01 năm 2022, tại Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 03/2021/TLPT-KDTM ngày 03 tháng 11 năm 2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng".

Do Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 03/2021/KDTM -ST ngày 13 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 141/2021/QĐ-PT ngày 24 tháng 12 năm 2021, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu; trụ sở tại 442 Nguyễn Thị Minh Khai, phường 5, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh; do ông Đỗ Minh Toàn- Tổng giám đốc làm người đại diện theo pháp luật.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Chánh T– Nhân viên; địa chỉ liên lạc: 38- 40 Trần Phú, phường Tây Sơn, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai

(Theo giấy ủy quyền số 1631/UQ-QLN.21 ngày 16-11-2021)(Ông T có mặt tại phiên tòa).

2. Bị đơn: Bà Dương Thị D và ông Bùi Kim T; cùng địa chỉ: Thôn 4, xã Thăng Hưng, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Dương Thị D và ông Bùi Kim T: Ông Đinh Viết D; địa chỉ: Tổ 4, phường Hội Phú, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai

(Theo văn bản ủy quyền ngày 31/12/2021)(Ông Dững có mặt tại phiên tòa).

3. Người kháng cáo: Bà Dương Thị D.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 03/2021/KDTM- ST ngày 13 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu (Gọi tắt là ACB) cấp tín dụng cho ông Bùi Kim T và bà Dương Thị D theo thỏa thuận về các điều khoản và điều kiện tín dụng cung số GIL.CN.2663.220317 ngày 23/3/2017; Hợp đồng tín dụng số GIL.CN.135.250518 ngày 25/5/2018; Phụ lục hợp đồng tín dụng số GIL.CN.135.250518/PL-01 ngày 25/5/2018; hạn mức tín dụng số tiền 2.000.000.000 đồng, mục đích cho vay kinh doanh hàng nông sản; thời hạn hiệu lực hợp đồng hạn mức tín dụng là 12 tháng, kể từ ngày ký hợp đồng cấp tín dụng (25/5/2018); lãi suất phạt chậm trả lãi là 10%/năm.

Để thực hiện thỏa thuận tín dụng và hợp đồng tín dụng nêu trên, ACB đã giải ngân cho bà Dương Thị D và ông Bùi Kim T theo 02 khế ước nhận nợ như sau:

Khế ước nhận nợ số 03 (Số tài khoản 275036899) ngày 25/12/2018 số tiền giải Ngân là 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng), phương thức giải ngân chuyển tiền vào tài khoản, thời hạn vay từ ngày 26/12/2018 đến ngày 25/7/2019.

Khế ước nhận nợ số 04 (Số tài khoản 276748929) ngày 22/01/2019, số tiền giải ngân 1.500.000.000 đồng (Một tỷ, năm trăm triệu đồng) từ ngày 23/01/2019 đến ngày 22/8/2019.

Ngày 30/7/2019 ACB và ông Bùi Kim T, bà Dương Thị D ký kết hợp đồng sửa đổi bổ sung số GIL.135.250518/SĐBS-01 về việc gia hạn nợ, trong đó:

Đối với khế ước nhận nợ số 03 (Số tài khoản 275036899) gia hạn 24 tháng kể từ ngày 25/7/2019 đến ngày 25/7/2021.

Khế ước nhận nợ số 04 (Số tài khoản 276748929) gia hạn 24 tháng kể từ ngày 22/8/2019 đến ngày 22/8/2021.

Trong quá trình vay vốn, ông Bùi Kim T và bà Dương Thị D vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên ngày 11/02/2020 Ngân hàng ACB đã ra thông báo thu hồi nợ trước hạn đối với khoản vay còn lại chưa thanh toán của khế ước nhận nợ số 03 và số 04.

Tuy vậy, việc đòi nợ nhiều lần không có kết quả, vì vậy, Ngân hàng ACB yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Bùi Kim T và bà Dương Thị D phải thanh toán trả cho ACB số tiền gốc của cả 02 hợp đồng vay tổng cộng là 2.000.000.000 đồng và lãi suất tính đến ngày 13/9/2021 là 627.656.188 đồng (Sáu trăm hai mươi bảy triệu, sáu trăm năm mươi sáu nghìn, một trăm tám mươi tám đồng).

Trường hợp bà Dương Thị D và ông Bùi Kim T không thanh toán dứt điểm tòan bộ số nợ gốc và nợ lãi cho ngân hàng thì ngân hàng đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ theo hợp đồng thế chấp số GIL.BĐCN.02050411ngày 05/4/2011, hợp đồng sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp số GIL.BĐCN.02050411/QĐBS-01; hợp đồng sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp số GIL.BĐCN.02050411/QĐBS-02, Hợp đồng sửa đổi bổ sung số GIL.BĐCN.02050411/QĐBS-03 ngày 20/4/2016; hợp đồng sửa đổi bổ sung số GIL.BĐCN.02050411/QĐBS-04 ngày 23/3/2017.

Về phía ông Bùi Kim T và bà Dương Thị D thừa nhận có vay của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu và thế chấp tài sản như đại diện Ngân hàng trình bày. Tuy nhiên do điều kiện khó khăn nên bà Dương Thị D và ông Bùi Kim T được Ngân hàng cho gia hạn thời hạn trả nợ đến ngày 22/8/2021, hiện nay chưa đến thời hạn trả nợ, vì vậy Ngân hàng khởi kiện là không đúng.

Mặt khác, đất của bà D và ông T hiện đang tranh chấp, vì vậy, đề nghị Tòa án tạm đình chỉ vụ án chờ giải quyết xong tranh chấp đất thì mới có cơ sở giải quyết vụ án.

Tại Bản án sơ thẩm số 03/2021/KDTM -ST ngày 13 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai đã quyết định:

- Áp dụng khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 144, Điều 147; Điều 157; Điều 158; Điều 227, khoản 1 Điều 228, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

- Áp dụng các Điều 117, 118, 119, 280, 292, 295, 299, 317, 318, 319, 320, 322, 323, 351, 463, 466, 468, 470 Bộ luật dân sự 2015.

- Áp dụng Điều 91 và Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Áp dụng Điều 26 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu.

Buộc ông Bùi Kim T và bà Dương Thị D phải có nghĩa vụ chung trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu tổng cộng số tiền cả gốc và lãi là 2.627.656.188 đồng (Hai tỷ, sáu trăm hai mươi bảy triệu, sáu trăm năm mươi sáu nghìn, một trăm tám mươi tám đồng). Trong đó tiền gốc là 2.000.000.000đ (Hai tỷ đồng) và tiền lãi tính đến ngày 13/9/2021 là 627.656.188 đồng (Sáu trăm hai mươi bảy triệu, sáu trăm năm mươi sáu nghìn, một trăm tám mươi tám đồng).

Tổng cộng số tiền cả gốc và lãi là 2.627.656.188đ (Hai tỷ sáu trăm hai mươi bảy triệu sáu trăm năm mươi sáu nghìn một trăm tám mươi tám đồng).

Trường hợp bà Dương Thị D và ông Bùi Kim T không thanh toán dứt điểm tòan bộ số nợ gốc và nợ lãi cho ngân hàng thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ theo hợp đồng thế chấp số GIL.BĐCN.02050411ngày 05/4/2011, hợp đồng sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp số GIL.BĐCN.02050411/QĐBS-01; hợp đồng sửa đổi bổ sung hợp đống thế chấp số GIL.BĐCN.02050411/QĐBS-02, GIL.BĐCN.02050411/QĐBS-03; GIL.BĐCN.02050411/QĐBS-04, tài sản thế chấp là:

- Quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số: 49 tờ bản đồ số 34 diện tích 2.337m2; Thửa đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q 202774 do Ủy ban nhân dân huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai cấp ngày 17/12/1999 địa chỉ thửa đất tại xã Thăng Hưng, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai.

- Quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số: 48a tờ bản đồ số 34 diện tích 852m2; địa chỉ thửa đất tại xã Thăng Hưng, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai; thửa đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 690783 do Ủy ban nhân dân huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai cấp ngày 14/01/2008.

- Quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số: 65a tờ bản đồ số 42 diện tích 4.995 m2; thửa đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 624025 do Ủy ban nhân dân huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai cấp ngày 13/01/2009, địa chỉ thửa đất tại xã Bình Giáo, (nay là xã Ia Drăng) huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai.

- Quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số: 38 tờ bản đồ số 42 diện tích 6.047 m2; thửa đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 625595 do Ủy ban nhân dân huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai cấp ngày 13/01/2009, địa chỉ thửa đất tại xã Bình Giáo, (nay là xã Ia Drăng) huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai.

- Quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số: 66 tờ bản đồ số 42 diện tích 14.937 m2; thửa đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 569230 do Ủy ban nhân dân huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai cấp ngày 17/9/2008, địa chỉ thửa đất tại xã Bình Giáo, (nay là xã Ia Drăng) huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm, chi phí xem xét thẩm định tại chỗ; thông báo quyền thỏa thuận, tự nguyện hoặc cưỡng chế thi hành án, thời hiệu thi hành án; tuyên quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 27/9/2021 bà Dương Thị D kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm nêu trên, yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm tuyên hủy bản án số 03/2021/KDTM- ST ngày 13/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai với lý do:

- Tòa án cấp sơ thẩm không đưa những người có quyền lợi, nghĩa vụ tham gia tố tụng gồm Bùi Tấn Đ, Bùi Duy Q, Bùi Thị Hiền Tr là vi phạm tố tụng.

- Tại Điều 1 của Hợp đồng sửa đổi bổ sung ngày 30/7/2019 các bên thỏa thuận thời hạn trả nợ đến ngày 22/8/2021, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm lại thụ lý, giải quyết trước thời điểm trả nợ.

- Tòa án không căn cứ vào Hợp đồng sửa đổi, bổ sung ngày 30/7/2019 để tính lãi suất mà ấn định số tiền lãi là 627.656.188 đồng là vi phạm.

Tại phiên toà phúc thẩm:

Các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, cụ thể như sau:

Tổng số tiền mà ông Bùi Kim T và bà Dương Thị D phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu cả gốc và lãi là 2.627.656.188 đồng (Hai tỷ, sáu trăm hai mươi bảy triệu, sáu trăm năm mươi sáu nghìn, một trăm tám mươi tám đồng). Trong đó tiền gốc là 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng) và tiền lãi tính đến ngày 13/9/2021 là 627.656.188 đồng (Sáu trăm hai mươi bảy triệu, sáu trăm năm mươi sáu nghìn, một trăm tám mươi tám đồng).

Ông Bùi Kim T và bà Dương Thị D trả 2.627.656.188 đồng cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu theo các đợt cụ thể sau đây:

- Ngày 11/3/2022 ông Tiến, bà Danh trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).

- Ngày 11/5/2022 ông Tiến, bà Danh trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu 2.617.656.188 đồng (Hai tỷ, sáu trăm mười bảy triệu, sáu trăm năm mươi sáu nghìn, một trăm tám mươi tám đồng).

Trường hợp đến ngày 11/3/2022 ông Bùi Kim T và bà Dương Thị D không trả hoặc trả không đầy đủ nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án thi hành đối với toàn bộ số tiền còn nợ, đồng thời được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự phát mãi các tài sản đã thế chấp để thu hồi nợ, tài sản được quyền yêu cầu phát mãi gồm:

- Quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số: 49 tờ bản đồ số 34 diện tích 2.337m2; Thửa đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q 202774 do Ủy ban nhân dân huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai cấp ngày 17/12/1999 địa chỉ thửa đất tại xã Thăng Hưng, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai.

- Quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số: 48a tờ bản đồ số 34 diện tích 852m2; địa chỉ thửa đất tại xã Thăng Hưng, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai; thửa đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 690783 do Ủy ban nhân dân huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai cấp ngày 14/01/2008.

- Quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số: 65a tờ bản đồ số 42 diện tích 4.995 m2; thửa đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 624025 do Ủy ban nhân dân huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai cấp ngày 13/01/2009, địa chỉ thửa đất tại xã Bình Giáo, (nay là xã Ia Drăng) huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai.

- Quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số: 38 tờ bản đồ số 42 diện tích 6.047 m2; thửa đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 625595 do Ủy ban nhân dân huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai cấp ngày 13/01/2009, địa chỉ thửa đất tại xã Bình Giáo, (nay là xã Ia Drăng) huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai.

- Quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số: 66 tờ bản đồ số 42 diện tích 14.937 m2; thửa đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 569230 do Ủy ban nhân dân huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai cấp ngày 17/9/2008, địa chỉ thửa đất tại xã Bình Giáo, (nay là xã Ia Drăng) huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai.

Về án phí sơ thẩm:

- Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

- Ông Bùi Kim T và bà Dương Thị D phải chịu toàn bộ tiền án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 84.553.124 đồng (Tám mươi tư triệu, năm trăm năm mươi ba nghìn, một trăm hai mươi bốn đồng).

Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ:

Ông Bùi Kim T và bà Dương Thị D phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.

Kiểm sát viên phát biểu tại phiên tòa phúc thẩm:

Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm ra bản án phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận nêu trên của các đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và sự thỏa thuận của họ là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Dương Thị D không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm; hoàn trả cho bà Danh là 2.000.000 đồng đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 147, 148 và Điều 300 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 và Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Sửa Bản án sơ thẩm số 03/2021/KDTM -ST ngày 13 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai; công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau:

Tổng số tiền mà ông Bùi Kim T và bà Dương Thị D phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu cả gốc và lãi là 2.627.656.188 đồng (Hai tỷ, sáu trăm hai mươi bảy triệu, sáu trăm năm mươi sáu nghìn, một trăm tám mươi tám đồng). Trong đó tiền gốc là 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng) và tiền lãi tính đến ngày 13/9/2021 là 627.656.188 đồng (Sáu trăm hai mươi bảy triệu, sáu trăm năm mươi sáu nghìn, một trăm tám mươi tám đồng).

Ông Bùi Kim T và bà Dương Thị D trả 2.627.656.188 đồng cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu theo các đợt sau đây:

- Ngày 11/3/2022 ông T, bà D trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).

- Ngày 11/5/2022 ông T, bà D trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu 2.617.656.188 đồng (Hai tỷ, sáu trăm mười bảy triệu, sáu trăm năm mươi sáu nghìn, một trăm tám mươi tám đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trường hợp đến ngày 11/3/2022 ông Bùi Kim T và bà Dương Thị D không trả được hoặc trả không đầy đủ nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án thi hành đối với toàn bộ số tiền còn nợ, đồng thời được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự phát mãi các tài sản đã thế chấp để thu hồi nợ, tài sản được quyền yêu cầu phát mãi gồm:

- Quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số: 49 tờ bản đồ số 34 diện tích 2.337m2; Thửa đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q 202774 do Ủy ban nhân dân huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai cấp ngày 17/12/1999 địa chỉ thửa đất tại xã Thăng Hưng, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai.

- Quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số: 48a tờ bản đồ số 34 diện tích 852m2; địa chỉ thửa đất tại xã Thăng Hưng, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai; thửa đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 690783 do Ủy ban nhân dân huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai cấp ngày 14/01/2008.

- Quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số: 65a tờ bản đồ số 42 diện tích 4.995 m2; thửa đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 624025 do Ủy ban nhân dân huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai cấp ngày 13/01/2009, địa chỉ thửa đất tại xã Bình Giáo, (nay là xã Ia Drăng) huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai.

- Quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số: 38 tờ bản đồ số 42 diện tích 6.047 m2; thửa đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 625595 do Ủy ban nhân dân huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai cấp ngày 13/01/2009, địa chỉ thửa đất tại xã Bình Giáo, (nay là xã Ia Drăng) huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai.

- Quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số: 66 tờ bản đồ số 42 diện tích 14.937 m2; thửa đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 569230 do Ủy ban nhân dân huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai cấp ngày 17/9/2008, địa chỉ thửa đất tại xã Bình Giáo, (nay là xã Ia Drăng) huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai.

2. Về án phí sơ thẩm:

- Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu không phải chịu án phí sơ thẩm; hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu 37.931.215 đồng (Ba mươi bảy triệu, chín trăm ba mươi mốt nghìn, hai trăm mười lăm đồng) đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006804 ngày 22/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai.

- Ông Bùi Kim T và bà Dương Thị D phải chịu toàn bộ tiền án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 84.553.124 đồng (Tám mươi tư triệu, năm trăm năm mươi ba nghìn, một trăm hai mươi bốn đồng).

3. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ:

Ông Bùi Kim T và bà Dương Thị D phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.

4. Về án phí phúc thẩm:

Bà Dương Thị D không phải chịu án phí phúc thẩm; hoàn trả cho bà Dương Thị D 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006280 ngày 11/10/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ