vanban.org

Bản án 01/2022/HSST — Hình sự

TAND TX. Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 20/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Tín T (Tên gọi khác: T lửa) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Tổng hợp hình phạt 02 năm tù cho hưởng án treo tại Bản án số 33/2019/HS-ST ngày 24/7/2019 của Toà án nhân dân thị Buôn H . Hình phạt chung buộc bị cáo Huỳnh Tín T phải chấp hành là: 06 (Sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án (Được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Tín T (Tên gọi khác: T lửa) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BUÔN HỒ
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2022/HSST
Ngày 20/01/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Hường.

Các h i thẩm nh n d n:

1. Ông Nguyễn Đình Quang.

2. Bà Nguyễn Thị Quỳnh Hải.

- Thư ký phiên tòa: Ông Thiều Sỹ Vững – Thư ký Toà án nhân dân thị

Buôn H t nh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân th x uôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên toà: Ông Hoàng Văn Toàn - Kiểm sát viên.

Ngày 20/01/2022 tại trụ sở Toà án nhân dân thị Buôn H , mở phiên toà ét ử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 40/2021/HSST ngày 24 tháng 12 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra ét ử số 02/2022/QĐXXST-HS, ngày 07/01/2022 đối với bị cáo:

HUỲNH TÍN T (tên gọi khác: T lửa), sinh ngày 01/11/1998 tại t nh Đắk Lắk; Nơi cư trú: Tổ dân phố M phường A thị B, t nh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Thợ nhôm kính; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Huỳnh Văn T sinh năm 1976; Con bà: Nguyễn Thị Mai S, sinh năm 1974; Vợ Trương Thị Mỹ H; sinh năm 2001; Bị cáo có 01 con sinh năm 2021; Tiền án: 01 tiền án về tội Cố ý gây thương tích theo bản án số 33/2019/HS-ST, ngày 24/7/2019 của Toà án nhân dân thị Buôn H ử phạt bị cáo 02 năm tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 04 năm.

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 25/9/2021 đến ngày 04/10/2021, sau đó khởi tố và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cứ trú từ ngày 04/10/2021, hiện bị cáo đang được tại ngoại tại TDP M phường A thị B Đắk Lắk có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Trịnh Văn H; Địa ch số 06 H, TDP N phường A thị B t nh Đắk Lắk có mặt.

-Người làm chứng: Lê Thị Thanh T; Địa ch TDP P phường A thị B, t nh Đắk Lắk vắng mặt.

-Người chứng kiến: Ông Lương Đình H; Địa ch TDP T phường A thị

B t nh Đắk Lắk vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong h sơ vụ án và bản cáo trạng nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Huỳnh Tín T là người nghiện ma túy và đ có 01 tiền án về tội “Cố ý gây thương tích” chưa được óa án tích. Ngày 23/9/2021 T sử dụng tài khoản Facebook của mình có tên “Tín T” và biết tài khoản Facebook tên “Th” (không rõ nhân thân lai lịch) có bán ma túy nên thông qua ứng dụng Messenger mạng hội Facebook T đ liên lạc đặt mua ma túy của “Th” với số tiền 1.000.000đ và được Th đ ng ý bán. Hai bên thỏa thuận thống nhất giao ma túy bằng cách cất giấu số ma túy vào trong gói hàng quần áo bên ngoài ghi thông tin giả số điện thoại người nhận người gửi r i gửi hàng qua nhà e T địa ch đường Nguyễn T phường A, chạy tuyến Thành Phố H Chí Minh - thị Buôn H t nh Đắk Lắk về cho T. Sau khi nhận được ma túy thì Th sẽ liên lạc để T gửi tiền trả cho Th. Đến ngày 25/9/2021 “Th” nhắn tin qua Messenger cho T báo ma túy đ gửi về đến Buôn H đ ng thời gửi cho T một hình ảnh về đặc điểm gói hàng bên ngoài có ghi “Người gửi: Th số điện thoại 0945198283; người nhận: Hiếu số điện thoại 0949140090; Địa chỉ nhận: Về tới nhà xe”. Tuy nhiên trong thời gian này do thị Buôn H đang áp dụng Ch thị số 16 ngày 31/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ về phòng chống dịch Covid-19, nên T không trực tiếp đến nhà e Thanh Tùng để nhận ma túy được nên T nhắn tin qua ứng dụng Messenger cho anh Trịnh Văn H sinh năm 1998 trú tại TDP M phường A thị B Đắk Lắk (bạn T) là nhân viên giao hàng (Super) và gửi hình ảnh gói hàng cho anh H và nói đó là quần Jen nhờ nhận giúp và đưa đến nhà r i T trả tiền công do không biết bên trong gói hàng có ma túy nên anh H đ ng ý đi nhận. Khoảng 09 giờ 30 ngày 25/9/2021 anh H điều khiển e mô tô biển số (47C1-21.453) đi đến nhà e T tại số nhà 45 N phường A thị B và gặp chị Lê Thị Thanh T nhân viên giao nhận hàng của nhà e tại đây anh H lấy điện thoại có hình ảnh gói hàng đưa cho chị T em thấy thông tin trên gói hàng phù hợp nên chị T giao gói hàng cho anh H. Sau đó anh H để gói hàng vào giỏ e đi về giao cho T mới đi được khoảng 15m đến 20m thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị Buôn H kiểm tra và phát hiện lập biên bản phạm tội quả tang thu giữ vật chứng theo quy định. Còn Huỳnh Tín T sau khi biết anh H bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị Buôn H bắt nên đ tự nguyện đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị Buôn H đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Bản kết luận giám định số 1000/GĐMT-PC09 ngày 01 tháng 10 năm 2021 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an t nh Đăk Lăk kết luận: Các cục chất rắn dạng tinh thể màu trắng bên trong 01 gói Nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy có khối lượng 4 3356 gam loại Methamphetamine.

Vật chứng của vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra đ thu giữ g m:

- 01 túi nylon trong suốt kích thước (13 05) cm bịt kín hai đầu bên trong có chứa các cục chất rắn dạng tinh thể màu trắng loại Methamphetamine khối lượng 4,3356 gam; 01 hộp nhựa hình khối màu trắng; 01 mảnh v i màu đen 01 túi nilong màu trắng đây là các vật dụng liên quan đến việc phạm tội không còn giá trị sử dụng.

Bản cáo trạng số 01/CT-VKSBH, ngày 23/12/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thị Buôn H đ truy tố bị cáo Huỳnh Tín T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Vào khoảng 09 giờ 30 phút ngày 25/9/2021 tại TDP M phường A thị Buôn H t nh Đắk Lắk. Bị cáo Huỳnh Tín T đ có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy loại Methamphetamine khối lượng 4,3356 gam.

Hành vi của bị cáo Huỳnh Tín T là phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, do đó Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đ ng ét ử:

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Huỳnh Tín T từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù.

Về các biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; các điểm a, b, c khoản 1 khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; các điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 túi nylon trong suốt kích thước (13 05) cm bịt kín hai đầu bên trong có chứa các cục chất rắn dạng tinh thể màu trắng loại Methamphetamine khối lượng còn lại sau giám định là 4 2775 gam; 01 hộp nhựa hình khối màu trắng; 01 mảnh v i màu đen.

Tịch thu sung Ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động hiệu OPPO F7 màu đen của bị cáo. Truy thu sung Ngân sách Nhà nước của bị cáo T số tiền 1.000.000đ. Đây là số tiền bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.

Bị cáo không tranh luận bào chữa gì trong phần lời nói sau cùng bị cáo in Hội đ ng ét ử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án căn cứ vào các tài liệu trong h sơ vụ án đ được thẩm tra ét hỏi tranh luận tại phiên tòa; Hội đ ng ét ử nhận thấy như sau:

Về hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị Buôn H Điều tra viên Viện kiểm sát nhân dân thị Buôn H Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đ thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng người tiến hành tố tụng đ thực hiện đều hợp pháp.

Vào khoảng 09 giờ 30 phút ngày 25/9/2021 tại TDP M phường A thị xã B t nh Đắk Lắk. Bị cáo Huỳnh Tín T đ có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy loại Methamphetamine khối lượng 4,3356 gam. Hành vi của bị cáo được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Như vậy đ có đủ căn cứ để kết luận quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thị Buôn H đối với bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ đúng người đúng tội đúng pháp luật.

Tại điểm c khoản 1 Điều 249 ộ luật hình sự:

1. “Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thu c m t trong các trường hợp sau đ y, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c)… Methamphetamine, …có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”;

Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho hội không những trực tiếp âm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về ma tuý mà còn xâm phạm trật tự an toàn hội và là nguyên nhân của những hành vi nguy hiểm khác cho hội gây bất bình trong quần chúng nhân dân gây mất trật tự trị an tại địa phương. Thiệt hại do ma tuý gây ra không những gây hại về trước mắt đối với những người sử dụng chất ma tuý mà còn gây hại đến toàn cộng đ ng tác động của nó ảnh hưởng ấu và lâu dài cho hội. Đặc biệt tội phạm về ma tuý đang diễn biến phức tạp và là hiểm hoạ của toàn cầu. Hơn nữa bị cáo phạm tội trong thời gian thử thách của án treo về tội “Cố ý gây thương tích” theo Bản án số 33/2019/HS-ST, ngày 24/7/2019 của Toà án nhân dân thị Buôn H đ ử phạt bị cáo 02 năm tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 04 năm. Vì vậy bị cáo phạm tội trong trường hợp tái phạm cần buộc bị cáo phải chấp hành thêm hình phạt tù đối với bản án này và ử lý nghiêm minh áp dụng mức hình phạt tương ứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội và buộc bị cáo phải cách ly khỏi hội một thời gian nhất định mới đủ tác dụng giáo dục riêng răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Điểm h “Tái phạm” theo khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo và tự chủ động ra đầu thú. Do đó cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Trong quá trình điều tra bị cáo Huỳnh Tín T khai nhận mua số ma túy của một người đàn ông tên “Th” nhưng T không biết nhân thân lai lịch của người này. Do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục ác minh làm rõ nếu đủ căn cứ thì ử lý sau.

Đối với anh Trịnh Văn H là người đến nhận gói hàng bên trong có ma túy tại nhà xe T cho bị cáo T. Tuy nhiên anh H không biết bên trong có cất giấu ma túy do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị Buôn H không ử lý đối với anh H là có căn cứ.

Đối với số điện thoại 0949140090 ghi người nhận H trên gói hàng gửi cho T. Cơ quan Cảnh sát điều tra đ điều tra làm rõ đây là số điện thoại do anh Nguyễn Xuân B đứng tên chủ thuê bao. Tuy nhiên anh B không sử dụng số điện thoại này và không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo T, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị Buôn H không đề cập ử lý là có căn cứ.

Đối với số điện thoại 0945198283 ghi người gửi Th trên gói hàng gửi cho T. Cơ quan Cảnh sát điều tra đ điều tra làm rõ đây là số điện thoại do Nguyễn Thị T, địa ch tại thôn L, xã H thành phố B t nh Đắk Lắk đứng tên chủ thuê bao. Tuy nhiên Kết quả điều tra ác minh tại Hòa Phú cho thấy không có người nào có ai tên Nguyễn Thị T tại thôn L, xã H thành phố B do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị Buôn H không có căn cứ ử lý.

Đối với chị Lê Thị Thanh T là nhân viên giao nhận hàng của nhà e chị T không biết bên trong gói hàng cất giấu chất ma túy do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị Buôn H không đề cập ử lý là có căn cứ.

Về các biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; các điểm a, b, c khoản 1 khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; các điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 túi nylon trong suốt kích thước (13 05) cm bên trong có chứa các cục chất rắn dạng tinh thể màu trắng loại Methamphetamine khối lượng còn lại sau giám định là 4 2775 gam; 01 hộp nhựa hình khối màu trắng; 01 mảnh v i màu đen.

Tịch thu sung Ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động hiệu OPPO F7 màu đen của bị cáo. Truy thu sung Ngân sách Nhà nước của bị cáo T số tiền 1.000.000đ. Đây là số tiền bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Tín T (Tên gọi khác: T lửa) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

-Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 5 Điều 65; khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Huỳnh Tín T 04 (Bốn) năm tù.

Tổng hợp hình phạt 02 năm tù cho hưởng án treo tại Bản án số 33/2019/HS-ST ngày 24/7/2019 của Toà án nhân dân thị Buôn H . Hình phạt chung buộc bị cáo Huỳnh Tín T phải chấp hành là: 06 (Sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án (Được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 25/9/2021 đến ngày 04/10/2021).

Các biện pháp tư pháp:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; các điểm a, b, c khoản 1 khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; các điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 túi nylon trong suốt kích thước (13 05) cm bên trong có chứa các cục chất rắn dạng tinh thể màu trắng loại Methamphetamine khối lượng còn lại sau giám định là 4 2775 gam; 01 hộp nhựa hình khối màu trắng; 01 mảnh v i màu đen.

Tịch thu sung Ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động hiệu OPPO F7 màu đen của bị cáo. Truy thu sung Ngân sách Nhà nước của bị cáo T số tiền 1.000.000đ. Đây là số tiền bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội.

Bị cáo Huỳnh Tín T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ