vanban.org

Bản án 01/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu Tuyên án 27/10/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự Lò Thị Dung - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NẬM NHÙN
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2022/HSST
Ngày 27/10/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NẬM NHÙN, TỈNH LAI CHÂU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông: Lý Đức Hiệp

- Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà: Nghiêm Thị Tú Anh

2. Bà: Lò Thị Chương

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà: Mào Thị Chiến - Thư ký Toà án nhân dân huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu tham gia phiên toà: Ông: Đặng Hồng Hạnh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 27/10/2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 03/2022/HSST ngày 01/10/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2022/QĐXXST-HS ngày 14/10/2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lò Thị D; Tên gọi khác: Không.

Sinh năm 1989 tại tỉnh Sơn La.

Nơi ĐKNKTT: Bản Nậm Khao, xã Mường Mô, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu.

Chỗ ở trước khi bị bắt: Tổ dân phố Noong Kiêng, TT Nậm Nhùn, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 01/12; Dân tộc: Thái.

Tôn giáo: Không; Giới tính: Nữ; Quốc tịch:Việt Nam

Con ông: Lò Văn K (sinh năm 1965) và con bà: Lò Thị M (sinh năm 1970).

Hiện bố, mẹ bị cáo đang sinh sống tại bản Nậm Khao, xã Mường Mô, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu.

Gia đình bị cáo có 03 chị, em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình.

Bị cáo có chồng, con: Chồng Nguyễn Công S - Sinh năm 1979. Bị cáo có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2011. Hiện chồng bị cáo đang sinh sống tại xã Lâm Giang, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái.

Tiền sự: Không

Tiền án: Không. Tuy nhiên ngày 30/10/2015,Lò Thị D bị Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu xử phạt 01 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 BLHS (năm 1999). Đến thời điểm phạm tội lần này bị cáo đã được xóa án tích.

Bị cáo bị bắt,tạm giữ từ ngày 15/6/2022 chuyển tạm giam ngày 24/6/2022 cho đến nay.Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Nậm Nhùn.

(Có mặt tại phiên tòa).

* Nhưng người làm chứng:

+ Ông: Lò Văn C - Sinh năm 1989

Trú tại: Bản Mường Mô 1, xã Mường Mô, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu.

(Vắng mặt tại phiên toà không rõ lý do).

+ Ông: Khoàng Văn B - Sinh năm 1993

Trú tại: Bản Nậm Dòn, xã Nậm Hàng, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu.

(Vắng mặt tại phiên toà không rõ lý do).

+ Ông: Đinh Văn Q - Sinh năm 1970

Trú tại: Tổ dân phố Pa Kéo, TT Nậm Nhùn, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu.

(Có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 14 giờ, ngày 15/6/2022. Khoàng Văn B - sinh năm 1993, trú tại: bản Nậm Dòn, xã Nậm Hàng, huyện Nậm Nhùn và anh Lò Văn C sinh năm 1989, trú tại: bản Mường Mô 1, xã Mường Mô, huyện Nậm Nhùn, vào một lán bỏ hoang thuộc bản Nậm Hàng, TT Nậm Nhùn, huyện Nậm Nhùn. Trong lán có anh Đinh Văn Q - sinh năm 1970, trú tại: tổ dân phố Pa Kéo, TT Nậm Nhùn, huyện Nậm Nhùn, do cùng là người nghiện với nhau nên B lấy 100.000 đồng, C lấy 300.000 đồng đưa cho Q, nhờ Q mua hộ Heroine cùng sử dụng. Q đồng ý, cầm tiền đi đến nhà anh Bùi Đức Th - sinh năm 1976, trú tại: tổ dân phố Noong Kiêng, TT Nậm Nhùn, huyện Nậm Nhùn để tìm mua ma túy. Đến nơi, Th không có ở nhà, trong nhà có Lò Thị D - sinh năm 1989, trú tại: bản Nậm Khao, xã Mường Mô, huyện Nậm Nhùn, hiện D đang sống với Th. Q hỏi và mua được của D 01 gói Heroine với giá 400.000 đồng. Mua được Heroine, Q đi về lán bỏ hoang rồi cùng với B và C sử dụng. Khi đang sử dụng Heroine thì bị Công an Thị trấn, Công an huyện Nậm Nhùn phát hiện, số ma túy Q, C, B đã sử dụng hết. Công an huyện Nậm Nhùn đã tiến hành lập biên bản xử lý hành chính, thu giữ 01 mảnh giấy bạc đã bị đốt màu đen; 01 bơm tiêm y tế; 01 mảnh nilon màu trắng; 01 bật lửa màu tím. Đinh Văn Q khai nhận số ma túy các đối tượng sử dụng là mua với Lò Thị D.

Hồi 16 giờ 40 phút, ngày 15/6/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Nậm Nhùn đã tiến hành khám xét khẩn cấp người và chỗ ở đối với Lò Thị D, thu giữ 11 gói, bên ngoài được gói bằng các mảnh nilon màu trắng và màu xanh, bên trong là chất bột màu trắng, cùng 400.000 đồng. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người và niêm phong vật chứng như đã nêu trên.

Về nguồn gốc số Heroine trên, D khai nhận: Chiều ngày 13/6/2022, D đi bộ từ nhà đến xã Nậm Manh, huyện Nậm Nhùn. Khi đi đến gần UBND xã Nậm Manh, D gặp và mua được 01 gói Heroine với giá 400.000 đồng của một người đàn ông không rõ lai lịch. Đến nhà, thấy không có ai ở nhà, D dùng kéo chia thành 12 phần nhỏ, dùng các mảnh nilon màu xanh, trắng gói lại, cho vào túi nilon màu trắng, dạng túi Zíp rồi cất ở đầu giường ngủ.

Tại kết luận giám định tư pháp theo vụ việc số 33A ngày 15/6/2022 kết luận: Toàn bộ số (11 gói) chất bột, màu trắng thu giữ của Lò Thị D có khối lượng 2,63 (hai phẩy sáu mươi ba) gam. Gửi toàn bộ đi giám định.

Tại bản kết luận giám định số 551/GĐ-KTHS ngày 20/06/2022 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: 11 (mười một) Mẫu chất bột, màu trắng (ký hiệu từ M1 đến M11) thu giữ của Lò Thị D gửi giám định là ma túy, loại Heroin. (không hoàn lại mẫu vật gửi giám định).

Bản Kết luận giám định số: 552/GĐ-KTHS, ngày 17/06/2022 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Lai Châu. Kết luận: 04 (bốn) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 100.000 đồng gửi giám định đều là tiền thật. (hoàn lại mẫu vật gửi giám định).

Tại bản Cáo trạng số: 42/CT-VKS ngày 30 tháng 9 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu đã truy tố bị cáo Lò Thị D về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Khoản 1 Điều 251 BLHS năm 2015 quy định:

1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

…..

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

T¹i phiªn toµ h«m nay vÞ ®¹i diÖn Viện kiểm sát vÉn gi÷ nguyªn quan ®iÓm truy tè ®èi víi bÞ c¸o theo bản cáo trạng vµ đưa ra c¸c c¨n cø, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ, căn cứ vật chứng đã thu giữ 11 (mười một) gói chất bột, màu trắng thu giữ của Lò Thị D có khối lượng 2,63 (hai phẩy sáu mươi ba) gam Heroin và 400.000 (bốn trăm nghìn đồng) do bán ma túy mà có. VÞ ®¹i diÖn VKS khẳng định bị cáo đã phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" ®Ò nghÞ HĐXX áp dụng Khoản 1 Điều 251 BLHS; áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s kho¶n 1 ĐiÒu 51; Điều 38 BLHS và đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng khoản 5 Điều 251 BLHS đối với bÞ c¸o miễn hình phạt bổ xung là hình phạt tiền cho bị cáo và đề nghị xử lý vật chứng của vụ án.

VÒ phÝa bÞ c¸o, t¹i phiªn toµ h«m nay bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội không oan sai và bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng của bị cáo t¹i phiªn toµ h«m nay: Bị cáo nhận thức được việc "Mua bán trái phép chất ma túy" là vi phạm pháp luật, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, Quyết định của Cơ quan điều tra huyện Nậm nhùn, Điều tra viên. Cơ quan Viện kiểm sát huyện Nậm nhùn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

VÒ hành vi phạm tội của bÞ c¸o t¹i phiªn toµ h«m nay bị cáo khai nhận tội, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với tang vật vụ án và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản cáo trạng, bị cáo thừa nhận đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội không oan sai.

* Về Lời khai của bị cáo: Trong quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo khai nhận rằng khi khai nhận trước Cơ quan điều tra, bị cáo không hề bị bức cung, nhục hình; các biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung của Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát, bị cáo được đọc lại và tự nguyện ký nhận và bị cáo thừa nhận hành vi bán trái phép 01 gói Heroin cho Đinh Văn Q với số tiền 400.000 (bốn trăm nghìn đồng) để kiếm lời, ngoài ra bị cáo còn cất giấu 11 (mười một) gói Heroin có khối lượng 2,63 (hai phẩy sáu mươi ba) gam nhằm mục đích bán kiếm lời. Hội đồng xét xử thấy rằng: Lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra là tự nguyện, khách quan; biên bản, tài liệu điều tra được thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

* Xét quan điểm luận tội của Kiểm sát viên và ý kiến của bị cáo HĐXX thấy rằng:Tại phiên tòa hôm nay, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Nhùn tham gia phiên tòa đã đưa ra các căn cứ chứng minh về hành vi phạm tội của bị cáo căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ, căn cứ kết quả mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu vật gửi đi giám định. Bản kết luận giám định số 551/GĐ-KTHS ngày 20/06/2022 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận đối với mẫu vật thu giữ của bị cáo là ma túy, loại Heroin. Các lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bởi vì những quan điểm này phù hợp với những tài liệu chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án cùng lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay đã cho thấy: Khoảng 16 giờ ngày 15/6/2022, tại nhà của Bùi Đức Th, thuộc tổ dân phố Noong Kiêng, thị trấn Nậm Nhùn, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu. Lò Thị D đã bán trái phép cho Đinh Văn Q 01 gói Heroine với số tiền 400.000 đồng. Ngoài ra D còn cất dấu trái phép 2,63 gam Heroine, mục đích để bán kiếm lời thì bị phát hiện, thu giữ. Do đó Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Lò Thị D đã phạm tội:“Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là những tình tiết xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s Khoản 1 Điều 51 BLHS.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có

Với tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên vì vậy khi quyết định hình phạt đối với bị cáo cần xem xét hành vi phạm tội với tính chất của bị cáo đã gây ra, gây bức xúc cho nhân dân địa phương, coi thường pháp luật. Vì vậy phải có hình phạt tương xứng đối với hành vi phạm tội của bị cáo và cũng là bài học cho công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, để cải tạo bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội. Đối với việc đề nghị của vÞ ®¹i diÖn VKS xử phạt bị cáo từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù là chưa tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo xét khối lượng ma túy bị cáo mua bán và nhân thân của bị cáo cần có một mức hình phạt cao hơn so với đề nghị của VKS.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

- 2,63 gam Heroine đã gửi toàn bộ đi giám định (Không hoàn lại mẫu vật);

- Tịch thu tiêu hủy vì không có giá trị sử dụng các vật chứng gồm: Vỏ bì, các mảnh nilon sau khi mở niêm phong, đã niêm phong lại (Đây là công cụ bị cáo dùng để phạm tội).

+ 01 bơm kim tiêm y tế.

+ 02 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy màu đen;

+ 01 chiếc bật lửa màu tím;

+ 01 mảnh nilon màu trắng;

(Đây là công cụ các đối tượng Lò Văn C; Đinh Văn Q; Khoàng Văn B dùng để sử dụng trái phép chất ma túy).

- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền 400.000 (bốn trăm nghìn) đồng do bị cáo phạm tội mà có.

Về hình phạt bổ sung, tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền hoặc tịch thu tài sản. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ đều cho thấy bị cáo lao động tự do, điều kiện kinh tế gia đình khó khăn. Do vậy, Hội đồng xét xử miễn hình phạt tiền hoặc tịch thu tài sản đối với bị cáo.

Về án phí: BÞ c¸o ph¶i chÞu ¸n phÝ theo quy ®Þnh cña ph¸p luËt.

Trong vụ án này: Kết quả điều tra không xác định được lai lịch người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo vào ngày 13/6/2022, nên không có căn cứ xử lý theo quy định pháp luật.

Đối với Bùi Đức Th, việc bị cáo cất giấu và mua bán trái phép chất ma túy, Thành không biết nên không đồng phạm với bị cáo.

Việc Q mua hộ ma túy cho C và B về cùng nhau sử dụng. Q không bán hộ ma túy cho D và không hứa hẹn, hay thỏa thuận gì với D. Do vậy Q không đồng phạm với D về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”. Lán mà Q cùng C, B sử dụng ma túy là lán bỏ hoang, do vậy Q không phạm tội “Chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy”.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Đinh Văn Q, Khoàng Văn B và Lò Văn C đã bị Công an huyện Nậm Nhùn xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo. “Đối với các hành vi nêu trên trong vụ án này HĐXX không đặt vấn đề giải quyết”.

V× c¸c lÏ trªn;

QuyÕt §Þnh;

1/Tuyªn bè bÞ c¸o: Lò Thị D ph¹m téi: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

2/¸p dông kho¶n 1 ĐiÒu 251;Điều 38; Điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

Xö ph¹t bị cáo 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ 15/06/2022.

3/ Áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự miễn hình phạt tiền hoặc tịch thu tài sản đối với bị cáo.

4/ Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS

- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền 400.000 (bốn trăm nghìn) đồng do bị cáo phạm tội mà có gồm: 04 (bốn) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng) 01 tờ tiền có seri GC 21131080; 01 tờ tiền có seri ZA 18061865; 01 tờ tiền có seri UO17187864; 01 tờ tiền có seri OL 18612581. (Số tiền trên được niêm phong trong 01 (một) phong bì do ngành bưu điện phát hành, mặt trước của bì niêm phong có ghi: Mẫu vật hoàn lại kèm theo KLGĐ số 552 ngày 17/06/2022 của PC09 Lai Châu (400.000 VNĐ-vụ Lò Thị Dung- MBTPCMT). Mặt sau có chữ ký và giám lai của Nguyễn Đăng Định, Nguyễn Thị Kim Ánh, Mai Văn Hùng và đóng 02 hình dấu tròn đỏ của phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Lai Châu và dán phủ bằng 01 lớp băng dính trắng).

- Tịch thu tiêu hủy vì không có giá trị sử dụng gồm:

+ 01 phong bì thư do Công an huyện Nậm Nhùn phát hành. Mặt trước của bì niêm phong có ghi: Vỏ bì, mảnh nilon, túi Zíp màu trắng sau khi mở niêm phong của Lò Thị Dung - sinh năm 1989, trú tại: bản Nậm Khao, xã Mường Mô, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu. Hành vi: Mua bán trái phép chất ma túy. Mặt sau của bì niêm phong được dán kín, trên mép dán của bì niêm phong dùng mảnh giấy trắng dán đè lên, trên mảnh giấy trắng có thể hiện chữ ký, họ tên của: Lò Văn Hội, Lý Văn Hưng, Đặng Hồng Hạnh, Giàng A Tùng, Lù Văn Thọ, Lò Thị D và đóng 02 hình tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu ở hai đầu mép dán.

+ 01 bơm kim tiêm y tế.

+ 02 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy màu đen.

+ 01 chiếc bật lửa màu tím.

+ 01 mảnh nilon màu trắng.

5/Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 BLTTHS và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban thường vụ Quốc hội bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

¸n xö c«ng khai s¬ thÈm cã mÆt bÞ c¸o báo cho bÞ c¸o biÕt được quyÒn kh¸ng c¸o trong h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy tuyªn ¸n theo Điều 331; Điều 333 BLTTHS./.

Cỡ chữ