vanban.org

Bản án 01/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam Tuyên án 12/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hình sự: Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17; 58 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo.

Tuyên bố: Các bị cáo Đặng Văn T, Lại Thiên L phạm tội “Đánh bạc”. Bị cáo Đặng Văn T phạm tội “Môi giới mại dâm”. Bị cáo Đặng Văn T 09 (Chín) tháng tù về tội “Đánh bạc” và 07 (Bẩy) tháng tù về tội “Môi giới mại dâm”. Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo Đặng Văn T phải chấp hành hình phạt chung… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T, Hoàng Thiên L - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về hình sự: Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17; 58 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DUY TIÊN
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2022/HSST
Ngày 12/01/2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN - HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Ngọc Thuận

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hoằng; ông Vũ Q Phòng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tươi - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên: Ông Phạm Minh Tiến - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 109/2021/HSST ngày 30 tháng 11 năm 2021, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 123/2021/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 12 năm 2021 đối với:

* Các bị cáo:

1/ Đặng Văn T, sinh năm 1961; nơi cư trú: Tổ dân phố K, phường T, thị xã D, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Q tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn L và bà Trần Thị Th; vợ: Đặng Thị C, con: Có 03 con, con lớn SN 1986, con nhỏ SN 1990; tiền án; tiền sự: Không; tạm giữ: từ ngày 09/9/2021 đến ngày 18/9/2021 chuyển sang tạm giam đến ngày 12/10/2021 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh, bị cáo tại ngoại tại địa phương; có mặt.

2/ Lại Thiên L, sinh năm 1988; nơi cư trú: Thôn D, xã T, thị xã D, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Q tịch: Việt Nam; con ông Lại Thiên L và bà Nguyễn Thị H; vợ: Phạm Thị H, con: Có 01 con sinh năm 2015; tiền án; tiền sự: Không; tạm giữ: từ ngày 12/9/2021 đến ngày 18/9/2021 chuyển sang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại tại địa phương; có mặt.

* Ngƣời bào chữa cho bị cáo Đặng Văn T: Bà Phạm Thị Nhàn – Trợ giúp viên Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Hà Nam. Có mặt.

* Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Kiều Việt C, sinh năm 1971, nơi cư trú: TDP T, phường D, thị xã D, tỉnh Hà Nam; có mặt.

+ Chị Phạm Thị H, sinh năm 1978; nơi cư trú: TDP Sa Lao, phường Đồng Văn, thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.

+ Ông Hoàng Minh Q, sinh năm 1971; nơi cư trú: TDP H, phường H, thị xã D, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.

+ Bà Trần Thị Tr, sinh năm 1969 (có mặt); bà Đặng Thị Ch, sinh năm 1964 (có mặt); cùng nơi cư trú: Tổ dân phố K, phường T, thị xã D, tỉnh Hà Nam;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đặng Văn T mở quán bán nước tại tổ dân phố K, phường T, thị xã D. Khoảng tháng 4/2021 T bắt đầu ghi số lô, số đề trái phép. Khi có người đến chơi thì T yêu cầu người chơi tự ghi các số lô, số đề ra giấy (cáp), sau đó T sẽ ghi lại vào tổng bảng của T và giữ lại tờ cáp. Ngoài ra T còn sử dụng điện thoại di động Samsung Galaxy J2 Prime lắp số thuê bao 0899.827.193 và chiếc điện thoại di động Forme lắp số thuê bao: 0922.881.961 và số thuê bao 0366.451.261 để ghi lô, đề cho những người nhắn tin, gọi điện đến chơi. Nếu thắng thì người chơi đến đọc cho T số lô, số đề đã đánh, T sẽ xem tờ cáp mà mình đã giữ lại hoặc xem tin nhắn để thanh toán tiền cho người chơi, ngược lại người chơi không trúng là thua bạc sẽ mất toàn bộ số tiền đã mua số lô, đề. Đến khoảng 18 giờ hàng ngày, T tập hợp rồi chuyển tổng bảng đến Zalo có tên “Hoa đời thường” và “Minh béo”.

Theo quy ước giữa những người chơi lô, đề dựa theo kết quả sổ xố kiến thiết Miền Bắc mở thưởng lúc 18 giờ 15 phút hàng ngày trên kênh truyền hình VTC9. Cách thức tính thắng thua cụ thể như sau:

Đối với số đề 02 chân (2 số) người chơi lựa chọn các số từ 00 đến 99. Nếu số đã chọn trùng với hai số cuối của giải đặc biệt thì người chơi thắng bạc sẽ được số tiền gấp 70 lần số tiền đã bỏ ra.

Đề ba càng (3 số) người chơi lựa chọn số ngẫu nhiên từ 000 đến 999. Nếu số đã chọn trùng với ba số cuối của giải đặc biệt thì người chơi thắng bạc sẽ được hưởng số tiền gấp 400 lần số tiền đã bỏ ra đánh.

Lô bao: người chơi lựa chọn các số từ 00 đến 99, mỗi 1 điểm tương ứng với 22.500 đồng. Nếu số đã chọn trùng với hai số cuối của các giải thưởng từ giải đặc biệt đến giải bảy (27 giải) thì người chơi thắng bạc và sẽ được số tiền 80.000đồng/1 điểm của chủ đề. Nếu trùng 02 giải, trùng 03 giải gọi là 2 nháy, 3 nháy... và số tiền thưởng sẽ được nhân lên tương ứng.

Lô xiên 2: người chơi chọn đánh một cặp gồm 02 số (mỗi số có hai chữ số), mỗi điểm tương ứng với số tiền 1.000đ/1 điểm. Nếu cặp số người chơi trùng 02 số cuối cùng của các giải thưởng thì người chơi trúng thưởng và sẽ được số tiền gấp 10 lần số tiền đã bỏ ra đánh của chủ đề.

Lô xiên 3: tương tự như lô xiên 2, người chơi mua một cặp gồm 03 số (mỗi số gồm có 02 chữ số), mỗi điểm lô xiên 3 cũng tương ứng với số tiền là 1.000đ /1điểm, nếu người chơi trúng thưởng sẽ được nhận số tiền gấp 40 lần số tiền đã đánh của chủ đề.

Kép bằng: là 10 bộ số có 02 số giống nhau là 00, 11, 22, 33, 44, 55, 66, 77, 88, 99, quy ước là 01 ăn 70, so sánh với 02 số cuối của giải đặc biệt nếu trúng bất kỳ 01 trong các số này sẽ thắng.

Dòng 11: gồm 04 số là 11, 66, 16, 61, quy ước là 01 ăn 70, so sánh với 02 số cuối của giải đặc biệt nếu trúng bất kỳ 01 trong các số này sẽ thắng.

Dòng 21: gồm 08 số là 21, 12, 26, 62, 71, 17, 76, 67, quy ước là 01 ăn 70, so sánh với 02 số cuối của giải đặc biệt nếu trúng bất kỳ 01 trong các số này sẽ thắng

Khoảng 18 giờ 25 phút ngày 09/9/2021 tại tổ dân phố K, phường T, thị xã D, tỉnh Hà Nam, tổ công tác Công an thị xã Duy Tiên phát hiện bắt quả tang Đặng Văn T vừa bán số lô, số đề cho Kiều Việt C và Hoàng Minh Q; số lô, số đề được gửi qua tin nhắn Zalo.

Vật chứng thu giữ:

Thu trên người Đặng Văn T: 01 tờ giấy loại tờ lịch một mặt có ghi các số và chữ, có chữ ký xác nhận của T; 01 tờ giấy A4 hai mặt đều ghi các số và chữ, có chữ ký xác nhận của T; Số tiền 1.547.000 đồng; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Forme màu đen đỏ bên trong lắp 02 sim (0922.881.961 và 0366.451.261); 01 điện thoại Samsung Galaxy J2 Prime bên trong lắp 01 sim (0899.827.193);

Thu trên người Hoàng Minh Q: Số tiền 2.400.000 đồng; 01 điện thoại di động Forme bên trong lắp 02 sim (0352.112.683 và 0869.217.235).

Thu trên người Kiều Việt C: Số tiền 570.000 đồng; 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A10.

Ngày 12/9/2021, Lại Thiên L đến cơ quan Công an đầu thú, khai nhận hành vi đánh bạc với Đặng Văn T và tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động Vivo bên trong có 02 sim, số thuê bao 0886.002.196 và 0399.262.508

Căn cứ vào tổng bảng, tin nhắn trong điện thoại ngày 09/9/2021, Đặng Văn T đã ghi cho những người chơi như sau:

Hồi 17 giờ 54 phút ngày 09/9/2021, Hoàng Minh Q dùng điện thoại di động nhãn hiệu Forme, bên trong có lắp số thuê bao 0869217235 nhắn tin tới số 0922.881.961 của Đặng Văn T đánh các số lô 00, 01, 59, 72, 95 mỗi con 20 điểm (tổng 100 điểm) tương ứng với số tiền là 2.250.000 đồng. Số tiền đánh bạc Q chưa chuyển cho T.

Hồi 17 giờ 37 phút ngày 09/9/2021, Kiều Việt C dùng điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A10 có lắp số thuê bao 0911.141.590 nhắn tin đến số thuê bao 0922.881.961 của Đặng Văn T đánh 40 điểm con lô 77, các số lô 33, 44, 91 mỗi số lô 10 điểm (tổng là 70 điểm) tương ứng với số tiền đánh là 1.575.000 đồng. Số tiền đánh bạc C chưa chuyển cho T.

Hồi 17 giờ 10 phút ngày 09/9/2021, Lại Thiên L sử dụng số thuê bao 0886.002.196 nhắn tin vào số thuê bao 0366.451.261 của Đặng Văn T đánh lô 24, 30, 17 mỗi con 100 điểm (tổng 300 điểm) với tổng số tiền là 6.750.000 đồng. Số tiền đánh bạc L chưa chuyển cho T.

Những người không rõ tên, tuổi: Đề 02, 20, 27, 97, 24, 40, 07 mỗi con 5.000 đồng = 35.000 đồng. Đề 77, 88, 74 mỗi con 10.000 đồng = 30.000 đồng. Đề 70, 35, 53, 45 mỗi con 20.000 đồng = 80.000 đồng. Đề 37, 73 mỗi con 25.000 đồng = 50.000 đồng. Đề 39, 61 mỗi con 30.000 đồng = 60.000 đồng. Đề 57, 85, 16 mỗi con 35.000 đồng = 105.000 đồng. Đề 91 = 40.000 đồng. Đề 77, 88 mỗi con 10.000 đồng = 20.000 đồng. Đề 75, 19, 66 mỗi con 45.000 đồng = 135.000 đồng. Đề 71, 11 mỗi con 50.000 đồng = 100.000 đồng. Đề 67, 76, 38 mỗi con 70.000 đồng = 210.000 đồng. Đề 17 = 75.000 đồng. Đề 83 = 80.000 đồng. Đề 25, 52 mỗi con 90.000 đồng = 180.000 đồng. Đề 36, 63 mỗi con 105.000 đồng = 210.000 đồng. Đề 93 = 110.000 đồng. Đề 08 = 15.000 đồng. Ba càng: 797 = 15.000 đồng, 275 = 10.000 đồng, 574 = 10.000 đồng, 675 = 5.000 đồng, 540 = 5.000 đồng. Lô xiên 3: 77, 44, 91 = 20.000 đồng; 94, 91, 59 = 30.000 đồng; 24, 30, 17 = 30.000 đồng. Lô xiên 2: 94, 91 = 50.000 đồng; 49, 91 = 20.000 đồng. Kép bằng là 400.000 đồng. Dòng 11 = 280.000 đồng. Dòng 21 = 40.000 đồng. Lô bao: 04 điểm lô 09 = 90.000 đồng; 19 điểm lô 87 = 427.000 đồng; 38 điểm lô 94 = 855.000 đồng; 06 điểm lô 91 = 135.000 đồng; 02 điểm lô 33 = 45.000 đồng; 02 điểm lô 77 = 45.000 đồng; 03 điểm lô 00 = 67.500 đồng; 32 điểm lô 01 = 720.000 đồng; 14 điểm lô 78 = 315.000 đồng; 10 điểm lô 25 = 225.000 đồng; 10 điểm lô 52 = 225.000 đồng; 03 điểm lô 49 = 67.500 đồng.

Tổng số tiền Đặng Văn T đánh bạc với những người chơi là: 16.222.000 đồng, trong đó đánh bạc với Lại Thiên L là: 6.750.000 đồng.

Đối với những ngày trước ngày 09/9/2021, T khai có ghi số lô, số đề cho khách nhưng đã xoá các tin nhắn, đã hủy cáp, tổng bảng nên không nhớ được đã ghi lô, đề cho những ai, ghi bao nhiêu tiền nên không có căn cứ làm rõ.

Quá trình điều tra còn xác định được: Do Trần Thị Tr bỏ chồng từ lâu nên Đặng Văn T đề nghị sẽ giới thiệu Tr đi bán dâm để kiếm thêm thu nhập, Tr đồng ý. Khoảng cuối tháng 8/2021 một người đàn ông khai tên là Nguyễn Văn B, sinh năm 1963 ở thôn N, xã N, huyện K, tỉnh Hà Nam đến quán nước của T uống bia rồi hỏi T “Nhiều lúc cũng buồn muốn tìm gái để giải trí”, T trả lời “Mày cứ xuống đây buổi tối”, ý của T là buổi tối đến sẽ có gái bán dâm cho B. Ngày 04/9/2021, B đến quán nhờ T gọi gái bán dâm đến, T đồng ý rồi gọi điện thoại cho Tr đến bán dâm. Một lúc sau, do có việc phải về nên B chưa mua dâm. Ngày hôm sau B tiếp tục đến quán uống bia và bảo T gọi Tr ra, do Tr bận nên hẹn 03 hôm nữa. Sau đó, B hỏi T “Thế em đi chơi với nó thì công của bác bao nhiêu”, thấy vậy T yêu cầu B trả công cho mình là 50.000 đồng. Khoảng 18 giờ ngày 09/9/2021, B đến quán bảo T gọi Tr đến bán dâm. T gọi điện cho Tr nói “Ra uống bia”, hiểu ý có khách đến mua dâm nên Tr đồng ý. Sau đó, B đưa cho T 01 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng để trả tiền công môi giới bán dâm. T cầm tiền B đưa rồi đưa cho vợ là bà Đặng Thị Ch (bà Ch nghĩ rằng đây là tiền bia khách trả). Tiếp đó, B điều khiển xe mô tô chở Tr đến Nhà nghỉ Tài H thuộc địa phận Tổ dân phố S, phường Đ, thị xã D của chị Phạm Thị H rồi thuê phòng 202 để mua bán dâm. Sau đó, B hỏi Tr “Anh phải trả em bao nhiêu”, Tr yêu cầu B trả 600.000 đồng, B trả lời “Anh có 250.000 đồng” rồi đưa tiền cho Tr. Tr đồng ý và cầm tiền B đưa. Khi Tr và B đang quan hệ tình dục với nhau thì bị tổ công tác của Công an thị xã Duy Tiên phát hiện bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ: Thu trên giường 01 bao cao su đã qua sử dụng; Thu của Tr số tiền 250.000 đồng; Thu trên nền nhà 01 vỏ bao cao su Cosmos; Thu tại bàn gỗ trong phòng 01 bao cao su Cosmos còn nguyên; Bà Đặng Thị Ch tự nguyện giao nộp số tiền 50.000 đồng.

Cáo trạng số 109/CT-VKS-DT ngày 29/11/2021, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên truy tố bị cáo Đặng Văn T về tội “Đánh bạc” và “Môi giới mại dâm” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 và khoản 1 Điều 328 Bộ luật Hình sự; truy tố Lại Thiên L về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị HĐXX áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17; 58 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo. Riêng Điều 38 Bộ luật hình sự đối với Đặng Văn T; riêng điểm i khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự đối với Lại Thiên L. Áp dụng khoản 1 Điều 328; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; 55 Bộ luật hình sự đối với Đặng Văn T. Xử phạt Đặng Văn T từ 9 đến 12 tháng tù về tội đánh bạc và từ 6 đến 9 tháng tù về tội môi giới mại dâm, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung từ 15 đến 21 tháng tù, được trừ đi thời gian bị tạm giữ, tạm giam. Xử phạt Lại Thiên L từ 6 đến 9 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng. Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo. Về vật chứng: Lưu giữ trong hồ sơ vụ án: Đối với 01 tờ lịch; 01 tờ A4 có ghi các số và chữ thu giữ của Đặng Văn T. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại nhãn hiệu Forme màu đen đỏ bên trong lắp 02 sim, 01 điện thoại Sam sung galaxy J2 bên trong có lắp 01 sim; 01 điện thoại Forme bên trong lắp 02 sim; 01 điện thoại di động Sam sung Galaxy A1; 01 điện thoại di động Vivo bên trong có 02 sim. Tịch thu cho tiêu hủy: 01 bao cao su đã qua sử dụng; 01 vỏ bao cao su, 01 bao cao su. Tịch thu sung ngân sách nhà nước: số tiền thu giữ của anh Hoàng Minh Q: 2.250.000đ; số tiền thu giữ của anh Kiều Việt C: 570.000đ; số tiền thu giữ của Trần Thị Tr: 250.000đ; số tiền thu giữ của bà Đặng Thị Ch: 50.000đ; số tiền thu giữ của Đặng Văn T: 1.547.000đ. Truy thu sung ngân sách nhà nước: đối với anh Kiều Việt C số tiền: 1.005.000đ; đối với bị cáo Đặng Văn T số tiền: 4.100.000đ; đối với bị cáo Lại Thiên L số tiền: 6.750.000đ. Trả lại cho anh Hoàng Minh Q: 150.000đ và tuyên án phí của vụ án.

Người bào chữa đề nghị xử phạt bị cáo mức án thấp nhất; bị cáo Đặng Văn T đồng ý lời bào chữa, không có tranh luận gì thêm; bị cáo Lại Thiên L không có tranh luận gì; những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có tranh luận gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Duy Tiên và Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên và Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, HĐXX xác định các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

Về tội danh: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, HĐXX có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng từ 17 đến 18 giờ, ngày 09/9/2021, tại quán nước của Đặng Văn T ở tổ dân phố K, phường T, thị xã D, Đặng Văn T đã thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức ghi số lô, số đề trái phép cho Kiều Việt C với số tiền 1.575.000 đồng, Hoàng Minh Q với số tiền 2.250.000 đồng, Lại Thiên L với số tiền 6.750.000 đồng. Ngoài ra trong ngày 09/9/2021, T còn ghi số, số đề cho các đối tượng không rõ tên tuổi địa chỉ với số tiền 5.647.000 đồng. Tổng số tiền T đánh bạc ngày 09/9/2021 là 16.222.000 đồng. Số tiền L đánh bạc ngày 09/9/2021 là 6.750.000 đồng.

Ngoài ra, ngày 09/9/2021 tại tổ dân phố K, phường T, thị xã D, Đặng Văn T thực hiện hành vi môi giới cho Trần Thị Tr bán dâm cho đối tượng tự khai là Nguyễn Văn B, sinh năm 1963 ở thôn N, xã N, huyện K, tỉnh Hà Nam, T thu lợi bất chính số tiền 50.000 đồng.

Hành vi nêu trên của các bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm trật tự công cộng, đồng thời ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương và đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Ngoài ra hành vi của bị cáo Đặng Văn T xâm phạm đến đạo đức xã hội và thuần phong mỹ tục truyền thống của dân tộc, đời sống văn hóa và đủ yếu tố cấu thành tội “Môi giới mại dâm” tội phạm, hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 328 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; không phải chịu tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải; bị cáo Đặng Văn T tham gia quân ngũ, Lại Thiên L đầu thú và có bố đẻ là thương bệnh binh nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Riêng bị cáo L phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét vai trò: Đối với hành vi đánh bạc: Đặng Văn T trực tiếp ghi lô đề cho khách đến chơi nên giữ vai trò đầu, Lại Thiên L đánh bạc với T nên đồng phạm. Đối với hành vi Môi giới mại dâm: Đặng Văn T giữ vai trò độc lập.

Về hình phạt: Từ nhận định trên xét thấy bị cáo Đặng Văn T phạm nhiều tội vì vậy cần phải cách ly khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo; đối với Lại Thiên L được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng vì thế không cần cách ly khỏi xã hội mà cho bị cáo cải tạo dưới sự giám sát của gia đình, xã hội tạo điều kiện cho bị cáo cải sửa mình. Xét điều kiện các bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

Đối với các hành vi khác:

Đối với đối tượng tự khai là Nguyễn Văn B, sinh năm 1963 trú tại thôn N, xã N, huyện K, tỉnh Hà Nam bị bắt quả tang mua dâm, trong thời gian tạm giữ hành chính lợi dụng sơ hở đã bỏ trốn. Cơ quan điều tra đã xác minh địa chỉ mà đối tượng khai là không đúng nên cơ quan điều tra tiếp tục xác minh và xử lý sau.

Đối với Trần Thị Tr có hành vi bán dâm, Công an thị xã Duy Tiên đã xử phạt vi phạm hành chính là đúng.

Đối với bà Đặng Thị Ch nhận 50.000đ của bị cáo T môi giới mại dâm mà có nhưng bà Ch không biết bị cáo T môi giới bán dâm nên không có căn cứ xử lý.

Đối với chị Phạm Thị H cho B thuê phòng nhưng không biết việc mua bán dâm giữa B và Tr nên không có căn cứ xử lý.

Đối với Hoàng Minh Q và Kiều Việt C: Do số tiền các đối tượng dùng để đánh bạc dưới 05 triệu đồng, bản thân Q, C chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc, gá bạc nên hành vi của Q, C chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm vì thế Công an thị xã Duy Tiên đã xử phạt hành chính là đúng.

Đối với người có nick zalo “Hoa đời thường” và người có nick zalo “Minh Béo” và những người chơi còn lại bị cáo không biết rõ thông tin nên không có căn cứ làm rõ.

Về vật chứng, tài liệu thu giữ:

Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Forme màu đen đỏ bên trong lắp 02 sim, 01 điện thoại Sam sung galaxy J2 bên trong có lắp 01 sim; 01 điện thoại Forme bên trong lắp 02 sim; 01 điện thoại di động Sam sung Galaxy A1; 01 điện thoại di động Vivo bên trong có 02 sim là công cụ phương tiện phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước;

Đối với 01 bao cao su đã qua sử dụng; 01 vỏ bao cao su, 01 bao cao su là công cụ phạm tội, không còn giá trị sử dụng tịch thu cho tiêu hủy

Đối với số tiền 2.400.000đ thu giữ của anh Hoàng Minh Q, anh Q chỉ dùng 2.250.000đ vào việc đánh bạc nên cần tịch thu số tiền này sung ngân sách nhà nước, số tiền còn lại là 150.000đ cần trả lại cho anh Q.

Đối với số tiền 570.000đ thu của anh Kiều Việt C, anh C dùng 1.575.000đ vào việc đánh bạc nên số tiền 570.000đ cần tịch thu sung ngân sách nhà nước, cần truy thu sung ngân sách nhà nước của anh C: 1.005.000đ.

Đối với 250.000đ thu giữ của Trần Thị Tr liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Đối với 01 tờ lịch; 01 tờ A4 có ghi các số và chữ thu giữ của Đặng Văn T là tài liệu chứng minh tội phạm cần lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

Đối với Lại Thiên L dùng 6.750.000đ đánh bạc cần truy thu đối với Lại Thiên L sung ngân sách nhà nước.

Đối với số tiền 50.000đ thu giữ của Đặng Thị Ch liên quan đến tội phạm cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Đối với số tiền thu giữ của Đặng Văn T: 1.547.000đ do bị cáo đánh bạc mà có cần tịch thu sung ngân sách nhà nước; cần truy thu của Đặng Văn T số tiền còn lại: 4.100.000đ sung ngân sách nhà nước.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp theo quy định.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo và các đương sự thực hiện quyền kháng cáo theo quy định.

Từ nhận định trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Về hình sự: Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17; 58 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo. Riêng Điều 38 Bộ luật hình sự đối với Đặng Văn T; riêng điểm i khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự đối với Lại Thiên L.

Căn cứ khoản 1 Điều 328; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; 55 Bộ luật hình sự đối với Đặng Văn T.

Tuyên bố: Các bị cáo Đặng Văn T, Lại Thiên L phạm tội “Đánh bạc”. Bị cáo Đặng Văn T phạm tội “Môi giới mại dâm”.

Xử phạt:

+ Bị cáo Đặng Văn T 09 (Chín) tháng tù về tội “Đánh bạc” và 07 (Bẩy) tháng tù về tội “Môi giới mại dâm”. Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo Đặng Văn T phải chấp hành hình phạt chung 16 (Mười sáu) tháng, được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam (từ ngày 09/9/2021 đến ngày 12/10/2021). Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

+ Bị cáo Lại Thiên L 08 (Tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 (Mười sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 12/01/2022).

Giao bị cáo Lại Thiên L cho Ủy ban nhân dân xã T, thị xã D, tỉnh Hà Nam giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước tổng hợp với hình phạt của bản án mới.

2. Về vật chứng, tài liệu thu giữ: Căn cứ điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Lưu giữ trong hồ sơ vụ án: 01 tờ lịch; 01 tờ A4 có ghi các số và chữ thu giữ của Đặng Văn T.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại nhãn hiệu Forme màu đen đỏ bên trong lắp 02 sim, 01 điện thoại Sam sung galaxy J2 bên trong có lắp 01 sim; 01 điện thoại Forme bên trong lắp 02 sim; 01 điện thoại di động Sam sung Galaxy A1; 01 điện thoại di động Vivo bên trong có 02 sim;

Tịch thu cho tiêu hủy: 01 bao cao su đã qua sử dụng; 01 vỏ bao cao su, 01 bao cao su.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước: số tiền thu giữ của anh Hoàng Minh Q: 2.250.000đ (Hai triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng); số tiền thu giữ của anh Kiều Việt C: 570.000đ (Năm trăm bẩy mươi ngàn đồng); số tiền thu giữ của Trần Thị Tr: 250.000đ (Hai trăm năm mươi ngàn đồng); số tiền thu giữ của bà Đặng Thị Ch: 50.000đ (Năm mươi ngàn đồng); số tiền thu giữ của Đặng Văn T: 1.547.000đ (Một triệu năm trăm bốn mươi bẩy ngàn đồng).

Truy thu sung ngân sách nhà nước: đối với anh Kiều Việt C số tiền: 1.005.000đ (Một triệu không trăm linh năm ngàn đồng); đối với bị cáo Đặng Văn T số tiền: 4.100.000đ (Bốn triệu một trăm ngàn đồng); đối với bị cáo Lại Thiên L số tiền: 6.750.000đ (Sáu triệu bẩy trăm năm mươi ngàn đồng).

Trả lại cho anh Hoàng Minh Q: 150.000đ (Một trăm năm mươi ngàn đồng).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Các bị cáo Đặng Văn T, Lại Thiên L mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Báo cho các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ