vanban.org

Bản án 01/2022/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Gia Lai Tuyên án 04/01/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 04/01/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Ngọc Th.

Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 34/2021/HSST ngày 14-7-2021 của Tòa án nhân dân huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai về phần hình phạt. Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Th 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”. Thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm 04/01/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Sơ thẩm Bản án 34/2021/HS-ST Tuyên án 14/07/2021
Phúc thẩm — đang xem Bản án 01/2022/HSPT Tuyên án 04/01/2022

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc Th bị truy tố về tội "Đánh bạc'' theo quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS - phạm tội đánh bạc (điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Ngọc Th.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH GIA LAI
____________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2022/HSPT
Ngày 04-01-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Anh Tuấn.

Các Thẩm phán: 1. Ông Nguyễn Văn Sinh;

2. Bà Đinh Thị Như Phượng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Trà My – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Lê Thế Nhơn- Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 61/2021/TLPT-HS ngày 20 tháng 8 năm 2021 đối với bị cáo Nguyễn Ngọc Th do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 34/2021/HSST ngày 14 tháng 7 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai.

Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Ngọc Th, sinh năm: 1984, tại Hà Tĩnh. Nơi cư trú: thôn 6, xã Ia Băng, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Công giáo. Trình độ học vấn: 05/12. Nghề nghiệp: Làm nông. Con ông Nguyễn Ngọc H và bà Trần Thị Đ.

Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Th, sinh năm 1986 (đã ly hôn), bị cáo có 04 người con, lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2017.

Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Năm 2006 bị Tòa án quân sự khu vực 1-Quân khu 5 xét xử 42 tháng tù về tội “Chiếm đoạt, tàng trữ, vận chuyển trái phép vật liệu nổ” (Đã được xóa án tích).

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/01/2021 đến ngày 06/2/2021 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

Trong vụ án còn 03 bị cáo khác không có kháng cáo và không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 28/01/2021, Lê Văn Â, Nguyễn Văn H, Nguyễn Ngọc Th nhậu thịt chó tại quán Phùng Luyến thuộc thôn 6, xã Ia Băng, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai. Trong lúc nhậu thì Ân rủ H, Th nhậu xong đánh bạc với nhau. Th và H đồng ý. Đến khoảng 11 giờ 30 Lê Văn  về trước còn Th và H tiếp tục nhậu. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, H và Th đến tiệm cơ khí Bảo An của Lê Văn  thuộc thôn Hàm Rồng, xã Ia Băng, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai thì thấy Lê Văn  và Lưu Hồng  đang ở xưởng. Cả 4 người tham gia đánh bài ăn tiền dưới hình thức đánh phỏm. Đến 14 giờ 20 phút cùng ngày thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đak Đoa bắt quả tang.

Về hình thức đánh phỏm các bị cáo khai nhận như sau:

Mỗi người được chia 09 quân bài từ bộ bài tú lơ khơ 52 lá, người nào đánh trước ván đầu tiên được chia thêm 01 quân bài (tổng cộng 10 quân bài), người có 10 quân bài đánh ra 01 quân bài về người đánh lượt kế tiếp, người kế tiếp có quyền “ăn” (lấy) hoặc không “ăn” quân bài của người đánh ra, nếu “ăn” quân bài thì phải tạo ra “phỏm” có quân bài đó. Trong ván bài khi có người “ù” hoặc “ù tròn” thì ván bài kết thúc. Nếu không có người “ù” hoặc “ù tròn” thì khi mỗi người chơi hết 03 lượt bài thì sẽ hạ bài so điểm xác định thắng thua.

Cách tính “Phỏm”: Trong các quân bài có 3 hoặc 4 quân bài cùng chất hoặc cùng loại thì được tính là một phỏm. Cả 09 quân bài tạo thành phỏm nhưng không liên tiếp liền mạch thì là bài “ù”, cả 09 lá bài tạo thành phỏm liên tiếp liền mạch, không lẻ quân bài nào thì là bài “ù tròn”, nếu không có bài ù thì tính điểm bài để tính thắng, thua. Ai có điểm chưa đánh ít nhất là người thắng trong ván bài đó và được 03 người thua bạc chung tiền theo cách tính là thua nhất, thua nhìn, thua ba. Nếu bài của ai không có “phỏm” thì tính là bài cháy.

Tỷ lệ ăn thua trong ván được thống nhất: Người bị “ăn” quân bài phải chung cho người “ăn” quân bài 50.000 đồng, nếu đánh ra quân bài ở lượt thứ 3 (lượt chốt hạ) mà bị “ăn” thì phải chung cho người “ăn” quân bài 200.000 đồng. Nếu có bài “ù” thì mỗi người phải chung cho người có bài “ù” số tiền 250.000 đồng, chung cho người có bài “ù tròn” 500.000 đồng. Nếu không có người “ù” hoặc “ù tròn” thì khi mỗi người chơi hết 03 lượt bài thì sẽ hạ bài so điểm xác định thắng thua. Theo cách tính điểm đã thỏa thuận, người thua nhất trong ván phải chung tiền cho người thắng 150.000 đồng. Người thua nhì trong ván phải chung tiền cho người thắng 100.000 đồng. Người thua ba trong ván phải chung tiền cho người thắng 50.000 đồng.

Số tiền các bị cáo sử dụng tham gia đánh bạc được xác định như sau:

Lê Văn Â: Bỏ ra 3.500.000 đồng đánh bạc, quá trình đánh bạc có đóng tiền xâu 100.000 đồng, cho đến khi bị bắt quả tang thua bạc còn lại 2.500.000 đồng để dưới chiếu bạc. Số tiền 30.500.000 đồng trong ví da Ân khai báo là tiền để trả tiền hàng cơ khí, không dùng để đánh bạc.

Nguyễn Ngọc Th: Mang theo 3.350.000 đồng dùng để đánh bạc, có đóng tiền xâu 01 ván với số tiền 50.000 đồng. Đến khi bị bắt quả tang thì thua bạc còn 1.550.000 đồng để dưới chiếu bạc.

Lưu Hồng Â: Mang theo 1.500.000 đồng đánh bạc cho đến khi bị bắt quả tang thì thắng bạc và đóng tiền xâu 04 ván 200.000 đồng; số tiền đánh bạc và thắng bạc còn lại Ân để dưới chiếu bạc là 2.600.000 đồng.

Nguyễn Văn H: Mang theo 2.200.000 đồng dùng để đánh bạc và lấy ra 1.200.000 đồng để trên chiếu bạc để làm tin, còn 1.000.000 đồng H cất trong người cũng để sử dụng vào việc đánh bạc. Đến khi Công an bắt quả tang H thắng bạc nên chưa dùng đến số tiền 1.000.000 đồng cất trong người, H đã đóng tiền xâu 01 ván với số tiền 50.000 đồng. Số tiền H đánh bạc và thắng bạc để dưới chiếu bạc là 2.500.000 đồng.

Quá trình điều tra xác định số tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc tổng cộng là 10.550.000 đồng.

2. Giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm:

Tại bản án hình sơ thẩm số 34/2021/HSST ngày 14-7-2021 của Tòa án nhân dân huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc Th phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Th 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án được trừ đi thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/01/2021 đến 06/02/2021.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc Th 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) để nộp ngân sách nhà nước.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên hình phạt đối với bị cáo khác, hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo của các bị cáo theo luật định.

3. Kháng cáo của bị cáo

Ngày 20/7/2021 bị cáo Nguyễn Ngọc Th kháng cáo xin được hưởng án treo.

4. Diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự chấp nhận kháng cáo của bị cáo; sửa bản án sơ thẩm, tuyên phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Th 12 tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, nhưng được khấu trừ thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/01/2021 đến 06/02/2021.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Th đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của các bị cáo và các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án; có đủ căn cứ để xác định bị cáo Nguyễn Ngọc Th cùng Lê Văn Â, Lưu Hồng  và Nguyễn Văn H thực hiện hành vi đánh bài ăn tiền dưới hình thức đánh “Phỏm” với tổng số tiền thu giữ tại chiếu bạc là 10.550.000đồng. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Đăk Đoa xét xử bị cáo về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội.

Xét kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo thấy rằng: Trong vụ án, bị cáo được xác định là đồng phạm trong tội “Đánh bạc” mang tính giản đơn, các bị cáo đều là người thực hành; bản thân bị cáo không phải là người rủ rê, khởi xướng các bị cáo khác thực hiện hành vi vi phạm. Mặc dù nhân thân của bị cáo từng bị xét xử về tội “Chiếm đoạt, tàng trữ, vận chuyển trái phép vật liệu nổ” nhưng bị cáo đã được xóa án tích, lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.

Ngoài những tình tiết giảm nhẹ đã được tòa án cấp sơ thẩm xem xét như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính và đang nuôi con nhỏ cũng cần xem xét cho bị cáo từ khi vụ án khởi tố đến nay, trong thời gian được tại ngoại bị cáo đã chấp hành tốt chính sách, pháp luật tại địa phương, không vi phạm gì mới.

Bị cáo bị cấp sơ thẩm áp dụng hình phạt bổ sung với số tiền 10.000.000 đồng; Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm bị cáo đã nộp đủ số tiền này theo Biên lai thu tiền số 0006525 ngày 27/12/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đăk Đoa. Việc bị cáo nộp số tiền phạt nêu trên thể hiện thái độ ăn năn, hối cải và chấp hành pháp luật của bị cáo đối với hành vi phạm tội đã gây ra.

Đây là tình tiết mới phát sinh ở giai đoạn phúc thẩm, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng không nhất thiết phải cách ly bị cáo Nguyễn Ngọc Th ra khỏi xã hội mà chỉ cần cho bị cáo được hưởng án treo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo, vì vậy, chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,

1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Ngọc Th.

Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 34/2021/HSST ngày 14-7-2021 của Tòa án nhân dân huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai về phần hình phạt.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Th 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”. Thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm 04/01/2022.

Giao bị cáo Nguyễn Ngọc Th cho Ủy ban nhân dân xã Ia Băng, huyện Đăk Đoa, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Ia Băng, huyện Đăk Đoa, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

2. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điểm h Khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12 /2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án:

Bị cáo Nguyễn Ngọc Th không phải nộp tiền án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ