- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bàng Thanh T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Bàng Thanh T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ C TỈNH QUẢNG NINH Bản án số: 01/2022/HS-ST Ngày 07 - 01 - 2022 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ C, TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quýnh
Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hiền và bà Lê Thị Thanh Thủy
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Phượng - Là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố C.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố C tham gia phiên tòa: Ông Lã Hải Long - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 01 năm 2022, tại Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 216/2021/TLST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 217/2021/QĐXXST-HS ngày 21/12/2021, đối với bị cáo:
Họ và tên: Bàng Thanh T; tên gọi khác: không; sinh ngày: xx/x/xxxx, tại thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; nơi ĐKHKTT: Tổ B, khu B1, phường Q, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Bàng Văn C (đã chết) và bà: Vũ Thị H; vợ: Lại Thị Hoàng A (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt quả tang ngày 11/9/2021, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh – Có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: anh Đỗ Văn L, sinh năm 1987; nơi cư trú: Tổ S, khu D, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh – Vắng mặt tại phiên tòa.
* Người chứng kiến: các anh Nguyễn Chính N, Trịnh Văn H – Đều vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 11/9/2021, tại ngách B, ngõ S, đường H, thuộc tổ 8, khu An Sơn, phường Cẩm S, thành phố C, Công an thành phố C bắt quả tang Bàng Thanh T có hành vi tàng trữ trái phép 02 túi nilon bên trong đều chứa chất tinh thể màu trắng loại Methamphetamine và còn thu giữ của T: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, vỏ màu vàng và 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu đen trắng, biển số 29X5-xxx.xx.
Tại bản kết luận giám định số 1768/KLGĐ ngày 16/9/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: Chất tinh thể màu trắng bên trong 02 túi nilon ký hiệu M1, M2 thu giữ của Bàng Thanh T là ma túy, loại Methamphetamine, tổng khối lượng 0,507 gam.
Tại bản kết luận giám định số 2042/KLGĐ ngày 15/11/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: không tìm thấy chất ma túy trong 05 (năm) điếu thuốc gửi giám định.
Bản cáo trạng số 04/CT-VKSCP ngày 14/12/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố C truy tố bị cáo Bàng Thanh T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa bị cáo Bàng Thanh T khai nhận về hành vi phạm tội cụ thể: bị cáo sử dụng ma túy loại Methamphetamine từ năm 2016, vào khoảng 09 giờ 00 phút ngày 11/9/2021 khi đang ở nhà bị cáo nhận được điện thoại của một người bạn xã hội tên là T (không biết địa chỉ cụ thể) gọi đến rủ bị cáo đi mua ma túy về cùng sử dụng, bị cáo đồng ý, cả hai thống nhất bị cáo sẽ là người đi mua ma túy. Bị cáo đi xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter biển số 29X5-xxx.xx mượn từ sáng của anh Đỗ Văn L là bạn của bị cáo, bị cáo đi đến khu vực Quảng trường thuộc phường Cẩm T, thành phố C để tìm mua ma túy thì mua được của một người đàn ông khoảng ngoài 30 tuổi (không biết tên tuổi) 01 túi nilon bên trong có ma túy đá với giá 300.000 đồng. Bị cáo cầm túi ma túy đá cất vào trong túi quần phía trước bên phải để đi gặp T cùng sử dụng. Khi đó T đã gọi điện cho bị cáo, cả hai hẹn nhau đi đến khu vực ngõ S, đường H, thuộc tổ T, khu A, phường C, thành phố C để tìm chỗ sử dụng. Khi đến nơi bị cáo xin của T điếu thuốc lá thì T có đưa cho bị cáo 01 bao thuốc bên trong có 05 điếu thuốc và bảo bên trong có đồ, bị cáo hiểu là ma túy đá (sau đó T đi bộ vào sâu trong ngõ vừa đi vừa nói chuyện điện thoại với ai đó), bị cáo vừa lấy điếu thuốc ra hút, chưa kịp kiểm tra gói ma túy bên trong bao thuốc lá của T thì bị Công an bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng gồm: thu trong túi quần bên phải phía trước bị cáo đang mặc 01 (một) túi nilon chứa chất ma túy đá bị cáo mới mua; thu tại tay trái của bị cáo 01 (một) bao thuốc lá Thăng Long vỏ màu vàng, bên trong có 05 điếu thuốc lá và 01 (một) túi nilon chứa ma túy Methamphetamine, ngoài ra công an còn thu của bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo (điện thoại bị cáo dùng để liên lạc với người bạn tên T) và 01 xe máy Yamaha Exciter biển số 29X5-xxx.xx. Viện kiểm sát nhân dân thành phố C truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, không bị oan. Bị cáo thấy ân hận về hành vi phạm tội của mình nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt đến mức thấp nhất.
Anh Đỗ Văn Lx – là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có lời khai cụ thể như sau: anh là bạn của bị cáo, chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter biển số 29X5-xxx.xx anh mua từ năm 2018 để sử dụng, khoảng 7 giờ 30 phút ngày 11/9/2021 bị cáo đã mượn xe của anh để đi có việc, vì là anh em chơi với nhau nên anh cũng không hỏi cụ thể đi có việc gì. Anh không biết bị cáo sử dụng xe vào việc phạm tội, anh đã được cơ quan Cảnh sát điều tra trả lại chiếc xe nên không có yêu cầu gì khác.
Các ông Nguyễn Chính Nx và Trịnh Văn Hx là người chứng kiến trong vụ án vắng mặt tại phiên tòa có lời khai tại cơ quan điều tra thể hiện: các ông chứng kiến công an kiểm tra bắt giữ Bàng Thanh T, thu giữ 02 (hai) gói giấy bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng, T khai nhận đó là ma túy loại Methamphetamine ngoài ra công an còn thu giữ của T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo và 01 xe mô tô Yamaha Exciter biển số 29X5-xxx.xx. Công an đã tiến hành lập biên bản, niêm phong số ma túy đá và các vật chứng thu giữ của T theo đúng quy định.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Xử phạt: Bàng Thanh T từ 15 (mười lăm) tháng đến 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 11/9/2021 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
Áp dụng: điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại và 05 điếu thuốc lá sau giám định; tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo. Tại phần tranh luận, bị cáo không tranh luận gì thêm, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt đến mức thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được qui định trong Bộ luật Tố tụng hình sự; Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Bàng Thanh T không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp
Về hành vi phạm tội của bị cáo: tại phiên toà Bàng Thanh T khai nhận về hành vi phạm tội đúng với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 12 giờ 15 phút ngày 11/9/2021; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; cũng như Bản kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và những người chứng kiến cùng với các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: bị cáo Bàng Thanh T đã có hành vi tàng trữ 0,507 gam ma túy loại Methamphetamine vào ngày 11/9/2021 nhằm mục đích để sử dụng thì bị công an phát hiện bắt giữ nên Viện kiểm sát nhân dân thành phố C truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, do vậy cần chấp nhận lời luận tội của Kiểm sát viên đối với bị cáo.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma tuý, gây mất trật tự trị an xã hội. Việc tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma tuý không chỉ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, trí lực của con người, mà còn làm phát sinh nhiều tội phạm khác và là hiểm hoạ đối với mọi gia đình và xã hội. Chính vì vậy hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử phạt nghiêm mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Hội đồng xét xử có xem xét tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối hận về hành vi phạm tội đã gây ra nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: bị cáo sử dụng ma túy, không có việc làm ổn định vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: đối với 01 phong bì còn nguyên dấu niêm phong số: 1768/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh bên trong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định đây là vật nhà nước cấm lưu hành nên tuyên tịch thu tiêu hủy. Đối với phong bì còn nguyên dấu niêm phong số 2042/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh bên trong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định đây là vật không có giá trị nên tuyên tịch thu tiêu hủy. Cơ quan công an thu giữ của bị cáo: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu đen bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter biển số 29X5-xxx.xx bị cáo mượn của anh Đỗ Văn Lx, anh Lx không biết bị cáo sử dụng xe để đi mua ma túy, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho anh Lxnên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với người đàn ông theo bị cáo khai là người bán ma túy cho bị cáo để sử dụng và người bạn tên T – là người rủ bị cáo đi mua ma túy cùng sử dụng và còn đưa ma túy cho bị cáo, do không biết lý lịch địa chỉ nên không có cơ sở điều tra làm rõ.
Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố: bị cáo Bàng Thanh T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
Xử phạt: Bàng Thanh T 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 11/9/2021;
Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì số 1768/KLGĐ và 01 phong bì số 2042/KLGĐ còn nguyên dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Quảng Ninh bên trong chứa mẫu vật hoàn trả sau giám định.
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, màu vàng, khay sim mất nắp, máy bị nứt vỡ, kèm 01 sim (không xác định số sim).
Tình trạng vật chứng, tài sản thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 73/BB-THA ngày 21/12/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố C, tỉnh Quảng Ninh.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Bàng Thanh T phải nộp: 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ vào các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Án xử sơ thẩm công khai có mặt bị cáo, vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh QN; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh QN; - Viện kiểm sát nhân dân TP. C; - Công an TP C, CQ THA hình sự; - Trại tạm giam Công an tỉnh QN; - Chi cục thi hành án dân sự TP.C; - Bị cáo, người có QLNVLQ; - Lưu hồ sơ, lưu văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Nguyễn Thị Quýnh |