vanban.org

Bản án 01/2022/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 12, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 04/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Hoàng A phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt bị cáo Phạm Hoàng A 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/7/2021. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Điều 48 Bộ luật Hình sự 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017); các điều 357, 589 Bộ luật Dân sự; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Hoàng A - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Hoàng A phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 175 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2022/HS-ST
Ngày: 04 - 01 - 2022.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Bá Hiệp.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nguyễn Văn Quản.

2/ Ông Lâm Bình Đăng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Ngọc Thành Nguyên – Thư ký Toà án của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Châu – Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 235/2021/TLST-HS ngày 26 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 621/2021/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:

Phạm Hoàng A; giới tính: Nam; sinh ngày: 12/8/1991; tại: Tỉnh Bạc Liêu; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Ấp Khúc Tréo B, xã Tân Phong, thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu; quốc tịch: Việt Nam ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; học vấn: 7/12; nghề nghiệp: Không; con ông Phạm Hoàng N, con bà Nguyễn Thị Bé Nm;

Tiền án:

Tại bản án hình sự số 44/2010/HSST ngày 06/10/2010 của Tòa án nhân dân huyện Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu xử phạt 02 năm tù về tội “Cưỡng đạt tài sản”, bị cáo kháng cáo. Ngày 12/01/2011, Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên án sơ thẩm, tại bản án số 05/2011/HSPT.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 56/2010/HSST ngày 25/11/2010 của Tòa án nhân dân huyện Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu xử phạt 05 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”.

Tổng hợp hình phạt 02 bản án trên là 07 năm tù. Đang chấp hành án thì thực hiện hành vi “Gây rối trật tự công cộng”.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2015/HSST ngày 13/4/2015 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Ngày 03/12/2019 chấp hành xong án phạt tù, thi hành xong án phí, chưa được xóa án tích.

Tiền sự: Không;

Nhân thân: Tại bản án hình sự số 208/2007/HSST, ngày 24/7/2007 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/4/2009 (bị kết án khi bị cáo dưới 16 tuổi).

Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/7/2021 đến nay. (có mặt)

- Bị hại: Ông Huỳnh Hoàng Tr, sinh năm 1989; nơi cư trú: đường TA15, Tổ 7, Khu phố 6, phường Thới An, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn Thị Kiều L, sinh năm 1988; nơi cư trú: đường TA15, Tổ 7, Khu phố 6, phường Thới An, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Hoàng A và anh Huỳnh Hoàng Tr là bạn bè cùng quê. Khoảng đầu tháng 8 năm 2020, Phạm Hoàng A đến xin ở chung phòng trọ với vợ chồng anh Huỳnh Hoàng Tr và chị Nguyễn Thị Kiều L tại địa chỉ 11 đường TA15, Tổ 7, Khu phố 6, phường Thới An, Quận 12.

Khoảng 18 giờ 00 ngày 09/8/2020, A hỏi mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario biển số 61H1-571.91 của anh Tr để đi mua thẻ cào nạp tiền điện thoại đi động thì anh Tr đồng ý và giao xe cho A. Sau khi mua được thẻ cào điện thoại tại địa chỉ 191B đường Trần Thị Cờ, Tổ 9, Khu phố 6, phường Thới An, Quận 12, do cần tiền tiêu xài, nên A nảy sinh ý định mang xe mô tô của anh Tr đi bán. Do vậy A điều khiển xe mô tô biển số 61H1-571.91 đến giao lộ đường Trần Thị Cờ và đường Lê Văn Khương, thuộc Khu phố 4, phường Thới An, Quận 12 bán cho một người đàn ông khoảng 30 tuổi (chưa xác định) với giá tiền 10.000.000 đồng và tiêu xài hết.

Ngày 15/8/2020, A đón xe đi từ tỉnh Bạc Liêu đến thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương để xin việc làm. Khi A đang ở đường N6, thuộc phường Chánh Nghĩa, thành phố Thủ Dầu Một thì anh Tr phát hiện A nên đã trình báo Công an phường Chánh Nghĩa, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương lập hồ sơ xử lý.

Quá trình điều tra Phạm Hoàng A bỏ trốn, đến ngày 20/7/2021, Phạm Hoàng A bị bắt theo quyết định truy nã.

Vật chứng thu giữ: Không thu giữ được vật chứng.

Kết luận định giá tài sản số: 231/KL-HĐĐGTS ngày 24/8/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận 12, kết luận xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario, biển số 61H1-571.01, số máy: MH1KF4112KK836870, số khung: KF41E1839356 có giá 48.900.000 đồng.

Phần dân sự: Bị hại Huỳnh Hoàng Tr yêu cầu Phạm Hoàng A bồi thường số tiền 48.900.000 đồng nhưng đến nay Phạm Hoàng A chưa có khả năng bồi thường.

Tại Cáo trạng số 207/CT-VKS ngày 25/10/2021, Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố Phạm Hoàng A về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Đối với người đàn ông (chưa xác định) mua xe do A chiếm đoạt của anh Tr đem bán, Cơ quan điều tra Công an Quận 12 tiếp tục điều tra xác minh làm rõ.

Tại phiên tòa,

Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên, đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị tuyên bố bị cáo phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt bị cáo từ 03 năm đến 04 năm tù theo điểm g khoản 2 Điều 175, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.

Buộc bị cáo bồi thường cho bị hại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét thấy, ngày 09/8/2020, tại địa chỉ 11 đường TA15, Tổ 7, Khu phố 6, phường Thới An, Quận 12, Phạm Hoàng A mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario, biển số 61H1-571.01 của anh Huỳnh Hoàng Tr để đi mua thẻ cào điện thoại thì anh Tr đồng ý. Sau khi mua xong thẻ cào thì A nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô trên và A đã đem xe đi bán cho một người đàn ông không rõ lai lịch. Qua định giá, xe mô tô A chiếm đoạt trị giá 48.900.000 đồng. Như vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định Phạm Hoàng A đã phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” được quy định tại Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xét thấy, bị cáo đã nhiều lần bị kết án, 02 lần kết án gần nhất của bị cáo, xác định bị cáo tái phạm, tái phạm nguy hiểm thì vẫn chưa được xóa án tích, nên lần phạm tội này của bị cáo là tái phạm nguy hiểm. Vì vậy, tội phạm và hình phạt của bị cáo được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xét thấy, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử giảm nhẹ thêm một phần hình phạt cho bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xét thấy, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường 48.900.000 đồng, bị cáo đồng ý. Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017); các điều 357, 589 Bộ luật Dân sự, Hội đồng xét xử: Buộc bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền 48.900.000 đồng, bồi thường ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Về vật chứng vụ án: Không thu giữ nên không đề cập giải quyết.

Về án phí: Theo các điều 23, 26 Nghị quyết Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo bồi thường số tiền 48.900.000 đồng nên phải nộp 2.445.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Phạm Hoàng A phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 175, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Phạm Hoàng A 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/7/2021.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Điều 48 Bộ luật Hình sự 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017); các điều 357, 589 Bộ luật Dân sự; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự.

Buộc bị cáo Phạm Hoàng A bồi thường cho anh Huỳnh Hoàng Tr số tiền 48.900.000 (bốn mươi tám triệu chín trăm nghìn) đồng. Bồi thường ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày anh Huỳnh Hoàng Tr có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, bị cáo Phạm Hoàng A còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Về án phí: Căn cứ vào các điều 23, 26 Nghị quyết Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm, nộp 2.445.000 (hai triệu bốn trăm bốn mươi lăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ