- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trư trái phép ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tô ̣i danh và hinh pha ̣t : Căn cứ vào Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2022/HS-ST Ngày 07-01-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Văn Tuyến
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phạm Thị Yến
Ông Nguyễn Anh Thơ
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Kim Thanh - Thư ký Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Thiệm - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 01 năm 2022, tại tru ̣ sở Tòa án nhân dân quâ ̣n Hải An , thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 52/2021/TLST-HS ngày 13 tháng 12 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2021/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:
Cù Minh C, sinh ngày 14 tháng 7 năm 1998, tại Hải Phòng; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Số 6/41 P, V, N, Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá : Lớ p 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cù Minh Đông và bà Nguyễn Thị Minh; gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 28 tháng 9 năm 2021, đến ngày 30 tháng 9 năm 2021 chuyển tạm giam. Có mặt.
- Người làm chứng:
1. Ông An Văn H. Vắng mặt.
2. Nguyễn Văn B. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 22 giờ 00 phút ngày 27/9/2021, Cù Minh C một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda màu đỏ biển kiểm soát số 17K4-6888 từ nhà trọ khu vực Bùi Thị Từ Nhiên, phường Đông Hải 1, quận Hải An đến khu vực vòng xuyến Ngô Gia Tự - Lê Hồng Phong, quận Hải An để mua 01 túi nilon có chứa ma túy với giá 200.000 đồng của một người nam giới (không xác định được lai lịch, địa chỉ). Sau đó, C để túi ma túy vào trong túi quần lửng bên trái đang mặc và điều khiển xe mô tô đến khu vực phường Tràng Cát, quận Hải An tìm chỗ sử dụng. Đến khoảng 22 giờ 35 phút cùng ngày, khi C đi đến khu vực trước cửa nhà số 1189 đường Ngô Gia Tự, phường Nam Hải, quận Hải An, Hải Phòng thì bị Tổ công tác Công an phường Nam Hải kiểm tra hành chính, phát hiện và bắt quả tang. Tổ công tác đã đưa C cùng tang vật về trụ sở để làm việc.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 túi nilon loại túi Zíp có viền mầu đỏ, kích thước 3x3cm bên trong có chứa tinh thể màu trắng (Chung khai là ma túy) và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda màu đỏ BKS 17K4-6888;
Tại Kết luận giám định số 544/KLGĐ-MT ngày 28/9/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng kết luận đối với chất bột màu trắng thu giữ của Cù Minh C: Là ma túy, có khối lượng 0,35gam, là loại Methamphetamine.
Tại bản Cáo trạng số 02/CT-VKS ngày 10/12/2021 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng đã truy tố Cù Minh C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo Cù Minh C đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về với xã hội làm ăn lương thiện.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng thực hành quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo toàn bộ nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 18 tháng đến 21 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội và xét bị cáo không có nghề nghiệp thu nhập ổn định nên đề nghị miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
- Về xử lý vật chứng:
+ Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tuyên tịch thu tiêu hủy 01 niêm phong bằng bì thư có dấu niêm phong số 544MT/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự-Công an thành phố Hải Phòng bên trong chứa chất ma túy còn lại sau giám định.
+ Đối với xe mô tô nhãn hiệu Hon đa, biển kiểm soát 17K4-6888. Quá trình điều tra xác định, chị Đoàn Thị Thu H; địa chỉ: xóm 1, Thái Hà, Thái Thụy, Thái Bình đứng tên chủ xe nhưng chị H vắng mặt tại địa phương, chưa rõ địa chỉ hiện nay của chị H; theo lời khai của Cù Minh C, chiếc xe do C mượn của anh Hoàng Ngọc T, sinh năm 1994, đăng ký hộ khẩu thường trú tại: xóm Chiến Thắng, xã Ba Đình, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa; anh T khai mua chiếc xe mô tô trên từ năm 2017 nhưng không xuất trình được giấy tờ mua bán và giấy đăng ký xe nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.
+ Đối với anh Hoàng Ngọc T, không biết việc C mượn xe mô tô để đi mua ma túy và người đàn ông đã bán ma túy cho Cù Minh C tại khu vực vòng xuyến Ngô Gia Tự - Lê Hồng Phong, quận Hải An, Hải Phòng. Qua điều tra chưa xác định được lai lịch, địa chỉ nên chưa có căn cứ xử lý.
- Về án phí : Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu , miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án , bị cáo phải án chịu 200.000 đồng án phi hinh sự sơ
́ ̀ thẩm theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hải An , Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hải An , Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nhận định các tình tiết của vụ án:
Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của những người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 22 giờ 35 phút ngày 27/9/2021, tại khu vực trước cửa nhà số 1189 đường Ngô Gia Tự, phường Nam Hải, quận Hải An, Hải Phòng, Cù Minh C có hành vi tàng trữ trái phép 0,35 gam Methamphetamine với mục đích cho bản thân sử dụng. Đây là chất ma túy nằm trong danh mục II , STT: 323 của Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ. Cù Minh Chung là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên hành vi đó của bị cáo đã phạm vào tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" vi phạm Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết định khung hình phạt : Căn cứ vào khối lượng ma túy bị cáo cất giấu, xác định hành vi của bị cáo đã phạm vào điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, do vậy cần phải được xử lý nghiêm và cần buô ̣c bi ̣ cáo phải cách ly xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự : Bị cáo không có tinh tiết
̀ tăng nă ̣ng trách nhiê ̣m hinh sự theo quy đi ̣nh ta ̣i Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
̀
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên toà và trong quá trình điều tra, truy tố, bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải. Mặt khác, bị cáo đã tình nguyện nhập ngũ và có thời gian tham gia quân đội từ năm 2016 đến năm 2018. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án; tiền sự; phạm tội lần đầu. Nhưng bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy. Do vậy, cần xem xét nhân thân của bị cáo khi quyết định hình phạt, đảm bảo giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
Về hình phạt chính: Trên cơ sở đánh giá đầy đủ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội của bi ̣ cáo gây nên , căn cứ quy định pháp luật hình sự, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân , Hô ̣i đồng xét xử thấy cần xử phạ t bị cáo mức hình phạt tù thích hợp mới đảm bảo mục đích nhằm trừng trị, giáo dục bị cáo có ý thức tuân theo pháp luật, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới và giáo dục người khác tôn trọng pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có việc làm ổn định và không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Xét 01 bì thư niêm phong có dấu niêm phong số 554MT/PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng bên trong chứa chất ma túy còn lại sau giám định là chất mà Nhà nước cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Đối với chiếc xe moto nhãn hiệu Hon đa gắn BKS 17K4-6888, quá trình điều tra anh Hoàng Ngọc T chưa xuất trình được giấy tờ mua bán và chưa tìm được chủ sở hữu hợp pháp nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau là phù hợp quy định của pháp luật.
Đối với anh Hoàng Ngọc T, không biết việc C mượn xe mô tô để đi mua ma túy và người đàn ông đã bán ma túy cho Cù Minh C tại khu vực vòng xuyến Ngô Gia Tự - Lê Hồng Phong, quận Hải An, Hải Phòng, qua điều tra chưa xác định được lai lịch, địa chỉ. Do đó, Cơ quan điều tra chưa có căn cứ xử lý là phù hợp quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tô ̣i danh và hinh pha ̣t : Căn cứ vào Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2
̀ Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự,
Xử phạt: Cù Minh C 18 (mười tám) tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/9/2021.
2. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo Lê Hoài Nam.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 bì thư niêm phong số 554MT/PC09 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an thành phố Hải Phòng (theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/12/2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hải An và Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An, thành phố Hải Phòng).
4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án,
Buô ̣c Cù Minh Chung phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND quận Hải An; - VKSND thành phố Hải Phòng; - Cơ quan CSĐT Công an quâ ̣n Hải An; - Trại tạm giam Công an TP Hải Phòng; - TAND thành phố Hải Phòng; - Cơ quan THAHS Công an quận Hải An; - Phòng PV06 - CATP Hải Phòng; - Chi cục Thi hành án Dân sự quận Hải An; - Lưu: HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Văn Tuyến |