vanban.org

Bản án 01/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mỹ Đức, TP. Hà Nội Tuyên án 05/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn cứ khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với Bùi Văn T.

Căn cứ khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với Nguyễn Quốc S. Tuyên bố bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn T và Nguyễn Quốc S (Đ249 và Đ251) - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? Căn cứ khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với Bùi Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỸ ĐỨC – TP. HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2022/HS-ST
Ngày 05-01-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Bùi Đức Hiệp.

- Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Tiến Bộ và ông Lê Mạnh Nhanh.

- Thư ký phiên tòa: bà Đinh Thị Thùy Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện M, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: bà Trần Thị Nhâm - Kiểm sát viên.

Trong ngày 05 tháng 01 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện M, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 86/2021/TLST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2021/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 12 năm 2021 và Thông báo về việc hoãn phiên tòa số 44/HSST-TB ngày 13/12/2021 đối với các bị cáo:

1. Bùi Văn T, sinh năm 1991 tại xã Hương Sơn, huyện M, thành phố Hà Nội.

Nơi cư trú: xóm 7, thôn Y, xã H, huyện M, thành phố Hà Nội.

Nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: nam; con ông Bùi Văn Tước và bà Nguyễn Thị Thủy; vợ: Nguyễn Thị Nga và có 01 con chung sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại. Có mặt.

2. Nguyễn Quốc S, sinh năm 1984 tại xã Tiên Hải, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.

Nơi cư trú: thôn N, xã T, thành phố P, tỉnh Hà Nam.

Nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: nam; con ông Nguyễn Minh Nam và bà Trần Thị Vọng; vợ: Hoàng Nguyệt Minh và có 03 con chung, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Quyết định xử phạt hành chính số 45 ngày 22/7/2009 của Công an huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam xử phạt 1.000.000 đồng về hành Đánh bạc; bị tạm giữ từ ngày 17/9/2021, chuyển tạm giam từ ngày 26/9/2021. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Hoàng Nguyệt Minh, sinh năm 1988. Có mặt.

Nơi cư trú: thôn N, xã T, thành phố P, tỉnh Hà Nam.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 16/9/2021, Nguyễn Quốc S, sinh năm 1984, trú tại: thôn N, xã T, thành phố P, tỉnh Hà Nam nhắn tin điện thoại bằng ứng dụng zalo vào tài khoản zalo có tên là “CH” của Bùi Văn T, sinh năm 1991, trú tại: xóm 7, thôn Y, xã H, huyện M, thành phố Hà Nội hỏi mua 300.000 đồng ma túy đá. T hẹn S ở chốt kiểm soát dịch Covid-19 thôn Tiên Mai, xã Hương Sơn để giao ma túy và nhận tiền. Sau đó S điều khiển xe máy Biển kiểm soát: 90B-459.28 từ nhà đến địa điểm đã hẹn. Khoảng 22 giờ 20 phút, T gặp S và đưa cho S một bao thuốc lá Thăng Long và nói có ma túy ở bên trong. Thấy lực lượng kiểm soát chốt, T bỏ chạy còn S đang cầm ma túy trên tay phải thì bị bắt quả tang. Tang vật thu giữ của S 01 bao thuốc lá Thăng Long bên trong có chứa 01 túi nilon có chứa tinh thể màu trắng, S khai là ma túy vừa mua của Bùi Văn T, 01 xe máy Biển kiểm soát: 90B-459.28 và 01 điện thoại di động Iphone 7 màu đen của S, bên trong có số thuê bao: 0977.377.325.

Ngày 27/9/2021, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M tiến hành nhận dạng xác định đối tượng đã bán ma túy cho Nguyễn Quốc S là Bùi Văn T, sinh năm 1991, trú tại thôn Yến Vỹ, xã Hương Sơn, huyện M, thành phố Hà Nội.

Ngày 13/10/2021, Bùi Văn T đã đến Công an huyện M đầu thú và khai nhận hành vi ngày 16/9/2021, T đã bán trái phép chất ma túy cho S với số tiền là 300.000 đồng.

Tại Kết luận giám định số 6930/KLGĐ-PC09 ngày 24/9/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon (để trong 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long) là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,139 gam.

Ngày 30/9/2021, Cơ quan điều tra ra Lệnh thu giữ thư tín, điện tín đối với chủ thuê bao và số thuê bao: 0977377325, 0365330905 và 0921947082, xác định T dùng số thuê bao 0365330905, gọi đến số thuê bao 0977377325 của S vào ngày 16/9/2021, lúc 22 giờ 15 phút (thời lượng 32 giây) tại khu vực xã Hương Sơn, huyện M.

Cáo trạng số 78/CT-VKS-MĐ ngày 30/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện M, thành phố Hà Nội truy tố Bùi Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự, truy tố Nguyễn Quốc S về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng khoản 1 Điều 249; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Quốc S từ 12 tháng đến 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 17/9/2021.

- Áp dụng khoản 1 Điều 251; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt Bùi Văn T từ 24 tháng đến 30 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

Về tang vật: áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự,

Tịch thu tiêu hủy phong bì mẫu vật chứa ma túy có chữ ký của giám định viên Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội và chữ ký của Nguyễn Quốc S.

Trả lại chị Hoàng Nguyệt Minh 01 chiếc xe máy cũ nhãn hiệu YAMAHA NOZZA, màu sơn trắng, biển kiểm soát: 90B1-459.28, số khung: CY071585, số máy: 1DR1-071603.

Tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động Iphone 7 cũ, vỏ màu đen thu giữ của Nguyễn Quốc S.

Buộc các bị cáo phải nộp án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M và Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân huyện M và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: đã thực hiện theo quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo và những người có liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại. Có đủ căn cứ xác định, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Xét lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang, lời khai tại cơ quan điều tra, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, có đủ cơ sở kết luận: ngày 16/9/2021 Bùi Văn T đã bán trái phép cho Nguyễn Quốc S 0,139 gam ma túy loại Methamphetamine thì bị bắt quả tang.

Các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, nên hành vi của Bùi Văn T đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 252 Bộ luật Hình sự; hành vi của Nguyễn Quốc S đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức là có căn cứ, đúng pháp luật.

Tính chất hành vi các bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cao cho xã hội, trực tiếp xâm hại tới chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, do đó phải áp dụng hình phạt tù cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội.

Xem xét các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo thì thấy:

Các bị cáo có không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; ngoài ra Bùi Văn T sau khi phạm tội đã ra đầu thú nên có căn cứ áp dụng cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bùi Văn T được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: xét thấy các bị cáo là lao động tự do, đối tượng nghiện nên miễn hình phạt bổ sung.

Về vật chứng: số ma túy thu giữ của các bị cáo là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 cũ, vỏ màu đen được S dùng để liên hệ mua ma túy của T nên tịch thu để phát mại sung quỹ Nhà nước.

Tang vật là chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA NOZZA, màu sơn trắng, Biển kiểm soát: 90B1-459.28, số khung: CY071585, số máy: 1DR1-071603 đăng ký mang tên Nguyễn Thị Thanh, sinh năm 1960 trú tại Đồng Văn - Duy Tiên - Hà Nam. Chị Hoàng Nguyệt Minh, sinh năm 1988 là vợ S, mua lại của chị Nguyễn Thị Thanh, chị Thanh bán cho chị Minh nhưng không có giấy tờ mua bán; chị Minh không biết S sử dụng xe để đi mua ma túy nên trả lại xe cho chị Minh.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, số loại SH 125, màu sơn đen, Biển kiểm soát: 29Y1-282.07; số máy: IF42B1028856, số khung: 4222FY025773 qua tra cứu mang tên ông Bùi Văn Tước (bố đẻ T), ngày 16/9/2021 ông Tước cho T mượn xe không biết T sử dụng làm phương tiến bán trái phép chất ma túy. Ngày 15/11/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã trả lại xe cho ông Tước là đúng.

Đối với người tên Cường đã bán ma túy cho Bùi Văn T, do không xác định được tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ để điều tra làm rõ là phù hợp.

Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với Bùi Văn T.

Căn cứ khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với Nguyễn Quốc S.

- Tuyên bố bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo:

Bùi Văn T 25 (hai mươi lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Nguyễn Quốc S 13 (mười ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 17/9/2021.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

- Xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự,

Tịch thu tiêu hủy phong bì mẫu vật chứa ma túy có chữ ký của giám định viên Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội và chữ ký của Nguyễn Quốc S.

Tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone 7 cũ, vỏ màu đen thu của Nguyễn Quốc S.

Trả lại chị Hoàng Nguyệt Minh 01 chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA NOZZA, màu sơn trắng, Biển kiểm soát: 90B1-459.28, số khung: CY071585, số máy: 1DR1-071603.

Vật chứng có đặc điểm và số lượng như Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 13/12/2021 giữa Công an huyện Mỹ Đức và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức.

- Về án phí: căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự, khoản 01 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Quyền kháng cáo: căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự, các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo về những vấn đề liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ