vanban.org

Bản án 01/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên Tuyên án 25/10/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lò Thị C phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Xử phạt Bị cáo: 03 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (Ngày 28/7/2022). Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Thị C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lò Thị C phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
Bản án số: 01/2022/HS-ST
Ngày: 25/10/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Yên

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nông Trung Kiên

Ông Mùa A Phềnh

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung - Thư ký Toà án nhân

dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 10 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 14/2022/TLST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2022/QĐXXST- HS ngày 13 tháng 10 năm 2022 đối với Bị cáo:

Họ và tên: Lò Thị C; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Sinh năm: 1979, tại Điện Biên; Nơi cư trú: Bản M, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa (học vấn): Không; Con ông: Lò Văn U – Sinh năm 1929 và con bà: Quàng Thị P (Lò Thị P) – Sinh năm 1939; Chồng: Không có; Con: 01 con sinh năm 1996; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Nhân thân: Bị cáo chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; Ngày 10/11/2011 bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên xử phạt 24 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo bản án số 19/2011/HSST, ngày 18/01/2013 chấp hành xong hình phạt trở về địa phương, bản án đã được xóa án tích.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/7/2022 sau đó chuyển sang tạm giam cho đến ngày xét xử (có mặt tại phiên tòa).

* Người bào chữa cho bị cáo: Bà Lê Thị Thúy A – Trợ giúp viên thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ ngày 28/7/2022, Lò Thị C đi bộ từ nhà đến đầu bản M, xã N, huyện Đ thì đi nhờ xe của một người đàn ông không biết tên, địa chỉ đến bản H, xã T, huyện Đ, mục đích tìm mua Heroine về sử dụng. Khi đến khu vực ruộng thuộc bản H thì C gặp người đàn ông tên D, qua trao đổi C mua của D 01 gói Heroine được gói bằng túi nilon màu trắng, miệng túi có nếp gấp cố định với giá 500.000 đ (Năm trăm nghìn đồng). Mua bán xong, C đi bộ ra đường và đi nhờ xe của một người phụ nữ không biết tên, địa chỉ về đến bản H, xã T thì xuống xe và đi bộ về nhà. Hồi 11 giờ 45 phút cùng ngày, khi C đang ở nhà tại bản M, xã N thì bị tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy, Công an huyện Điện Biên phát hiện, bắt quả tang và thu giữ tại tay phải của C một túi nilon màu trắng, miệng túi có nếp gấp cố định, bên trong có các cục bột màu trắng nghi là Heroine có khối lượng 3,17 gam.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng và niêm phong vật chứng ngày 28/7/2022 đã xác định như sau: Các cục bột màu trắng nghi Heroine có khối lượng là 3,17 gam gửi toàn bộ giám định.

Tại bản kết luận giám định số 1097/Kl-KTHS ngày 04/8/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận: Mẫu cục bột màu trắng thu giữ của Lò Thị C gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine. Kèm theo kết luận giám định hoàn lại đối tượng giám định 2,48 gam và bì niêm phong cũ có biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định kèm theo.

Tại bản cáo trạng số 223/CT-VKSĐB ngày 10/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên truy tố bị cáo Lò Thị C về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo: Từ 03 năm 03 tháng đến 03 năm 09 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với Bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy gồm: 2,48 gam Heroine là vật chứng còn lại của vụ án.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, Bị cáo được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm.

Tại bản luận cứ bào chữa: Người bào chữa cho bị cáo nhất trí quan điểm truy tố của Viện kiểm sát, quyết định xét xử của Tòa án đối với bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS là đúng người, đúng tội. Bị cáo thành khẩn khai báo nên đề nghị HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo Điểm s Khoản 1, khoản 2 Điều 51/BLHS xét xử bị cáo ở mức hình phạt thấp nhất do VKS đề nghị là phù hợp với tính chất mức độ của bị cáo. Bị cáo thuộc hộ nghèo nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí HSST cho bị cáo.

Bị cáo hoàn toàn nhất trí bản luận cứ bào chữa của Người bào chữa không có ý kiến bổ sung vào bản luận cứ.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận, hoàn toàn nhất trí với bản Cáo trạng và luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên.

Lời nói sau cùng của Bị cáo trước khi HĐXX nghị án: Bị cáo Lò Thị C xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho Bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi phạm tội của Bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Lò Thị C khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng; Kết luận giám định, Kết luận điều tra, các bản cung, biên bản ghi lời khai có trong hồ sơ vụ án cũng như cáo trạng đã truy tố đối với Bị cáo, có đủ cơ sở khẳng định: Hồi 11 giờ 45 phút, ngày 28/7/2022 tại nhà bị cáo Lò Thị C ở bản M, xã N, huyện Đ, Lò Thị C bị tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy, Công an huyện Điện Biên phát hiện, bắt quả tang vì đã có hành vi tàng trữ trái phép 3,17 gam Heroine, nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Nguồn gốc số Heroine bị thu giữ là do C khai mua của một người đàn ông tên Dân ở bản H, xã T, huyện Đ với số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng). Hành vi của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, vi phạm pháp luật. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo thực hiện hành vi do lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi nêu trên của Bị cáo có đủ các yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

…

c) Heroine, cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;"

Từ những phân tích trên, khẳng định Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Lò Thị C về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Về tính chất của vụ án: Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi cất giấu trái phép chất ma túy nhằm mục đích để sử dụng của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự tại địa phương, gây dư luận xấu trên địa bàn. Mặt khác ma túy là hiểm họa của loài người, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Chính vì vậy Bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội mà mình đã gây ra. Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với Bị cáo để giáo dục Bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với Bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo có bố đẻ là Lò Văn U được Nhà nước tặng thưởng Huân Chương kháng chiến hạng Nhất, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với Bị cáo được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo sinh ra và lớn lên tại xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Bị cáo được gia đình nuôi không được đi học. Từ năm 1994 đến năm 2006 chung sống như vợ chồng với Cà Văn X, sinh năm 1973, địa chỉ: Bản B, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên và có với nhau 01 người con sinh năm 1996. Năm 2010 chung sống như vợ chồng với Lò Văn L (Đã chết năm 2021). Bị cáo sử dụng ma túy từ năm 2022 cho đến nay.

Tại bản án số 19/2011/HS-ST ngày 10/11/2011 của Tòa án nhân dân huyện Điện Biên xử phạt Bị cáo 24 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, đến ngày 18/01/2013 chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương, hiện bản án đã được xóa án tích. Do vậy, Bị cáo là người có nhân thân xấu nên Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt thật nghiêm khắc để bị cáo cải tạo thành người công dân có ích cho xã hội.

Tại bản án trên Bị cáo khai có bố đẻ Lò Văn U sinh năm 1930 và mẹ đẻ Lò Thị P sinh năm 1932. Căn cứ Công văn số 30/CCCP-PV06 về việc trả lời yêu cầu so sánh vân tay (BL: 68) xác định: Lò Thị C (danh, chỉ bản số 000000256 lập ngày 01/8/2022 tại Công an huyện Điện Biên) và Lò Thị C (danh, chỉ bản số 0000000133 lập ngày 15/7/2011 tại Công an huyện Điện Biên) có vân tay đồng nhất cùng một người, và có tiền án, tiền sự trong tàng thư, cơ sở dữ liệu do Phòng Hồ sơ nghiệp vụ - Công an tỉnh Điện Biên quản lý. Căn cứ Biên bản xác minh của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Điện Biên (BL: 98a – 98b ), Thông báo số định danh cá nhân và thông tin công dân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư do Công an xã Noong Hẹt cung cấp (BL: 111, 112, 113) và lời khai của Bị cáo tại phiên tòa cũng như trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở khẳng định: Bị cáo Lò Thị C có bố đẻ ông Lò Văn U, sinh năm 1930, có mẹ đẻ bà Lò Thị P, sinh năm 1932 tại bản án số 19/2011/HSST và bị cáo Lò Thị C có bổ đẻ ông Lò Văn U, sinh năm 1929, mẹ đẻ bà Quàng Thị P, sinh năm 1939 tại phiên tòa hôm nay là cùng một người; ông Lò Văn U sinh năm 1930 và ông Lò Văn U sinh năm 1929 là cùng một người; bà Lò Thị P sinh năm 1932 và Quàng Thị P sinh năm 1939 là cùng một người.

Quá trình điều tra và truy tố Cơ quan điều tra Công an huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên và Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xác định mẹ đẻ bị cáo bà Quàng Thị P không có tên gọi khác. Nhưng thông qua các tài liệu có trong hồ sơ có đủ cơ sở xác định mẹ đẻ Bị cáo đã từng sử dụng tên gọi khác là Lò Thị P. Mặt khác, căn cứ vào lời khai của Bị cáo C trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa. Do đó Hội đồng xét xử xác định bà Quàng Thị P có tên gọi khác là Lò Thị P.

Tại bản án số 19/2011/HSST ngày 10/11/2011 có thể hiện bị cáo có chồng là Lò Văn X, sinh năm 1973 (Đã ly hôn). Tuy nhiên, qua quá trình điều tra xác minh tại UBND xã Noong Hẹt của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Điện Biên (BL: 97 - 98 ) xác định Lò Thị C chưa làm thủ tục đăng ký kết hôn. Tại biên bản xác minh về nhân thân, lai lịch (BL: 98a – 98b) có kết quả xác minh Cà Văn X và Lò Văn X là cùng một người, Lò Thị C chung sống như vợ chồng với Cà Văn X từ năm 1994 đến năm 2006. Như vậy, Hội đồng xét xử có thể khẳng định Lò Thị C chưa có chồng mà chỉ chung sống như vợ chồng với Cà Văn X (tên gọi khác Lò Văn X) và Lò Văn L (đã chết).

Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính Bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Nhưng xét thấy Bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý, nghề nghiệp của bị cáo là làm ruộng không có thu nhập ổn định, hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn thuộc hộ nghèo nên không có khả năng thi hành. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với Bị cáo.

Đề nghị của Kiểm sát viên và người bào chữa: Xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên về mức hình phạt đối với Bị cáo từ 03 năm 03 tháng đến 03 năm 09 tháng tù, đề nghị của người bào chữa về mức hình phạt đối với Bị cáo là 03 năm 03 tháng tù. Đối với mức hình phạt theo đề nghị của VKS Hội đồng xét xử thấy là phù hợp với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo nên cần chấp nhận. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử thấy rằng có thể xử mức hình phạt cao hơn mức hình phạt Người bào chữa đề nghị mới mang tính chất răn đe, giáo dục Bị cáo và phòng ngừa cho toàn xã hội.

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Cơ quan truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

Về xử lý vật chứng: Số Heroine bị thu giữ là 3,17 gam, đã gửi giám định hoàn lại 2,48 gam là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 1 Điều 47/BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106/BLTTHS.

Các vấn đề khác: Bị cáo khai nguồn gốc số ma túy Cơ quan điều tra thu giữ do Bị cáo mua của một người đàn ông tên là D có địa chỉ tại Bản H, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Quá trình điều tra Lò Văn D không thừa nhận việc đã bán ma túy cho Lò Thị C nên cơ quan điều tra không cơ sở xử lý đối với Lò Văn D, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với những người đã cho C đi nhờ xe đi mua ma túy, do Bị cáo không biết họ tên và địa chỉ của những người này nên cơ quan điều tra không có cơ sở điều tra làm rõ, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát không đề cập nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14. Bị cáo thuộc hộ nghèo nên miễn toàn bộ án phí HSST cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

1. Tuyên bố: Bị cáo Lò Thị C phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Xử phạt Bị cáo: 03 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (Ngày 28/7/2022).

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 2,48 gam Heroine là vật chứng còn lại của vụ án.

(Vật chứng của vụ án đã được Cơ quan điều tra Công an huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên chuyển giao cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/10/2022).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo được miễn toàn bộ án phí Hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ