- Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo lê Hoàng Kim T (tàng trũ trái phép ma túy) - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Lê Hoàng Kim T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Lê Hoàng Kim T 02 (hai) năm tù.
- Căn cứ chính? Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2022/HS-ST Ngày: 05-01-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Nam.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Thu Thu;
2. Ông Hồ Đắc Minh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huệ - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 99/2021/TLST-HS ngày 23 tháng 11 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93/2021/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:
Lê Hoàng Kim T, sinh năm 1988, tại tỉnh Cần Thơ; nơi cư trú: Ấp H, xã M, huyện P, tỉnh Bình Dương. Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới Tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Hoàng K và bà Nguyễn Thị S; tiền án: Không; tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 84/QĐ-XPHC ngày 29/5/2021 của Công an xã H, huyện P, tỉnh Bình Dương xử phạt bị cáo 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Nhân thân: Quyết định số 126/QĐ-UBND ngày 04/02/2013 của Ủy ban nhân dân huyện Dầu Tiếng, quyết định áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh đối với bị cáo trong thời hạn 12 tháng tại Trung tâm giáo dục lao động – tạo việc làm tỉnh Bình Dương. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/8/2021 cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Lê Hoàng K, sinh năm 1945; HKTT: Ấp Ấp H, xã M, huyện P, tỉnh Bình Dương. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Lê Hoàng Kim T là đối tượng nghiện ma túy từ năm 2010 đến nay. Khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 29 tháng 8 năm 2021, bị cáo gọi điện thoại cho một đối tượng tên Mỹ (không xác định được nhân thân lai lịch) ở thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương hỏi mua ma túy với số tiền 1.500.000 đồng. Mỹ đồng ý và hẹn gặp bị cáo ở khu vực đường Nguyễn Văn Tiết, phường Hiệp Thành, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương để giao ma túy. Bị cáo điều khiển xe ô tô biển số 61A – 437.65 đi từ xã H, huyện Dầu Tiếng đến thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương gặp Mỹ. Khoảng 13 giờ 00 phút cùng ngày, Mỹ bán cho bị cáo 02 gói ma túy với số tiền 1.500.000 đồng và được bị cáo cất giấu trong xe ô tô. Sau đó, bị cáo đi mua màn hình máy vi tính ở đường Huỳnh Văn Lũy và mua thuốc ở nhà thuốc Hoàng Liêm trên đường Yesin, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương rồi quay về nhà.
Đến 17 giờ 30 phút cùng ngày, khi đi đến chốt Kiểm soát dịch bệnh Covid-19 tại ấp Đòn Gánh, xã Long Tân, huyện Dầu Tiếng thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý và thu giữ các tang vật như sau:
- 02 gói nylong hàn kín bên trong mỗi gói chứa tinh thể màu trắng;
- 01 xe ô tô hiệu Kia, loại Morining, màu bạc, biển số 61A-437.65;
- 01 giấy chứng minh nhân dân tên Lê Hoàng Kim T;
- 01 giấy đăng ký xe ô tô tên Lê Hoàng Kim;
- 01 điện thoại oppo màu đỏ, số Imeil 1: 869383038240453, kèm theo sim Viettel, có số seri sim: 8984048000302065855.
Ngày 30/8/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương ra Quyết định trưng cầu giám định số: 165/QĐ gửi đến Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Bình Dương để giám định số tang vật thu giữ trên gồm: Tinh thể màu trắng trong 02 gói nylon hàn kín được niêm phong trong 01 bì thư được dán kín, có chữ ký của cán bộ niêm phong Nguyễn Thế Đ, điều tra viên Trịnh Quốc Long K, người chứng kiến Lê Hoàng Kim T. Bì thư trên tiếp tục được niêm phong trong 01 bì thư được dán kín, có chữ ký của cán bộ niêm phong Nguyễn Thế Đ, điều tra viên Trịnh Quốc Long K, người chứng kiến Lê Hoàng Kim T, ông Vũ Văn D – Phó Trưởng Công an xã L và hình dấu mộc đỏ của Công an xã L.
Kết luận giám định số: 585/MT-PC09, ngày 06/9/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Bình Dương kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy có khối lượng 1,6667 gam (M1); 0,2270 gam (M2), loại Methamphetamine.
Tại Cáo trạng số 103/CT-VKSDT-HS ngày 23/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Lê Hoàng Kim T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng giữ nguyên quan điểm và quyết định truy tố đối với bị cáo Lê Hoàng Kim T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự và đề nghị:
- Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Lê Hoàng Kim T 02 năm đến 03 năm tù.
- Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
Đối với xe ô tô hiệu Kia, loại Morining, màu bạc, biển số 61A-437.65 do ông Lê Hoàng Kim là chủ sở hữu và giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển số 61A-437.65 mang tên Lê Hoàng K. Xét thấy, ông K cho bị cáo mượn làm phương tiện đi lại và không biết việc bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy nên ngày 02/11/2021, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng đã trả cho ông K theo Quyết định xử lý vật chứng số 33/QĐ là đúng quy định.
Đối với điện thoại Oppo màu đỏ, số Imeil 1: 869383038240453 kèm theo sim Viettel, có số seri sim: 8984048000302065855 của bị cáo, bị cáo dùng điện thoại để liên lạc mua ma túy nên đề nghị tịch thu vào ngân sách Nhà nước.
Đối với giấy chứng minh nhân dân tên Lê Hoàng Kim T; xét thấy không liên quan đến hành vi phạm tội nên đề nghị trả lại cho bị cáo.
Đối với bì thư được niêm phong ghi số 585/PC09 (là mẫu vật gửi giám định trong quyết định trưng cầu giám định số 165/QĐ ngày 30/8/2021 của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng) có chữ ký của người chứng kiến Lê Hoàng Kim T, chữ ký cán bộ niêm phong Nguyễn Thế Đ, Trịnh Quốc Long K (Điều tra viên), đại úy Vũ Văn D (Phó công an xã) và hình dấu mộc đỏ của Công an xã L, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương và giấy niêm phong có chữ ký của Lê Hoàng Kim T (người chứng kiến), chữ ký Nguyễn Thế Đ (bên nhận mẫu), chữ ký của Nguyễn Hoàng N (bên giao mẫu) và hình dấu đỏ niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương. Khối lượng mẫu vật niêm phong: M1=1,4447 gam; M2=0,1439 gam. Xét thấy, đây là tang vật của vụ án nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.
Tại phiên tòa, bị cáo tỏ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và có ý kiến xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt. Lời nói sau cùng: Bị cáo đã biết hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là vi phạm pháp luật và xin giảm nhẹ hình phạt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông K không có ý kiến tranh luận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng và Điều tra viên, Cơ quan Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định và không bị ai khiếu nại gì về việc tiến hành các hoạt động tố tụng, thu thập chứng cứ đối với vụ án nên toàn bộ hoạt động tố tụng, thu thập chứng cứ có trong hồ sơ đều hợp pháp.
2 Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, cụ thể: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 29/8/2021, tại đoạn đường tại ấp Đòn Gánh, xã Long Tân, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương, Công an huyện P phối hợp với công an xã L bắt quả tang bị cáo có hành vi tàng trữ trái phép 02 gói ma túy được cất giữ trong xe ô tô mang biển số: 61A-437.65. Tại Kết luận giám định số 585/MT- PC09 ngày 06/9/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Dương kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng, gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng 1,6667 gam (M1) và 0,2270 gam (M2). Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo được thu thập trong quá trình điều tra, truy tố có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục được quy định tại Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ. Căn cứ quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự và hướng dẫn tại Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ về Th tổng khối lượng chất ma túy thì hành vi của bị cáo đủ căn cứ để Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương truy tố theo Cáo trạng số 103/CT-VKSDT-HS ngày 23/11/2021 và việc truy tố là hoàn toàn có căn cứ và đúng quy định pháp luật.
Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo đã xâm phạm đến sự quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, đã làm cho nhiều người phải nghiện thứ chất độc hại mà Nhà nước cấm sử dụng và dẫn đến nhiều tệ nạn xã hội khác. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực để nhận thức được việc làm của mình là vi phạm pháp luật, thế nhưng bị cáo đã bất chấp hậu quả, quyết tâm thực hiện tội phạm, làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương nơi xảy ra vụ án.
Là đối tượng nghiện nên bị cáo hiểu rõ nhất về tác hại của chất ma túy, gây ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe con người nhưng vẫn cố tình thực hiện hành vi tàng trữ ma túy để sử dụng. Do đó, bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
[5 Xét hành vi, mức độ phạm tội của bị cáo gây ra là rất nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã từng bị Công an xã H xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội. Để đảm bảo công tác đấu tranh phòng chống tội phạm mà đặc biệt là tội phạm về ma túy trên địa bàn huyện P cũng như của cả nước nói chung. Đồng thời, để bị cáo thấy được sự nghiêm minh của pháp luật nên cần phải xử lý thật nghiêm bằng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm có điều kiện giáo dục và cải tạo thành người công dân tốt sau này cũng như phòng ngừa chung cho xã hội.
[6 Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
7 Đối với người bán ma túy tên “Mỹ” cho bị cáo, Cơ quan điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ điều tra, làm rõ xử lý; khi nào có đủ căn cứ sẽ tiến hành điều tra, xử lý sau.
[8 Ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo về phần tội danh, hình phạt, điều khoản truy tố là có căn cứ phù hợp với các tình tiết của vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
9 Ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, được Hội đồng xét xử xem xét theo quy định khi quyết định hình phạt.
[10 Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, đã thu giữ vật chứng và cần xử lý như sau:
Đối với xe ô tô hiệu Kia, loại Morning, màu bạc, biển số 61A-437.65 do ông Lê Hoàng Kim là chủ sở hữu và giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển số 61A-437.65 mang tên Lê Hoàng K. Xét thấy, ông K cho bị cáo mượn làm phương tiện đi lại và không biết việc bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy nên ngày 02/11/2021, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng đã trả cho ông K theo Quyết định xử lý vật chứng số 33/QĐ là đúng quy định.
10.2 Đối với điện thoại oppo, màu đỏ, số Imeil 1: 869383038240453 kèm theo sim Viettel, có số seri sim: 8984048000302065855 của bị cáo, bị cáo dùng điện thoại để liên lạc mua ma túy nên tịch thu vào ngân sách Nhà nước.
Đối với giấy chứng minh nhân dân tên Lê Hoàng Kim T; xét thấy không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
Đối với bì thư được niêm phong ghi số 585/PC09 (là mẫu vật gửi giám định trong quyết định trưng cầu giám định số 165/QĐ ngày 30/8/2021 của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng). Khối lượng mẫu vật niêm phong: M1=1,4447 gam; M2=0,1439 gam. Xét thấy, đây là tang vật của vụ án nên tịch thu tiêu hủy.
[11 Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 46, Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, khoản 1 và 4 Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Căn cứ Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Lê Hoàng Kim T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Lê Hoàng Kim T 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù Tính từ ngày 29/8/2021.
2. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
- Tịch thu vào ngân sách Nhà nước 01 (một) chiếc điện thoại Oppo màu đỏ, số Imeil 1: 869383038240453 kèm theo 01 (một) sim Viettel, có số seri sim: 8984048000302065855.
- Trả lại giấy chứng minh nhân dân mang tên Lê Hoàng Kim T cho bị cáo Lê Hoàng Kim T.
- Tịch Thu tiêu hủy 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 585/PC09 có chữ ký của người chứng kiến Lê Hoàng Kim T, chữ ký cán bộ niêm phong Nguyễn Thế Đ, Trịnh Quốc Long K (Điều tra viên), hình dấu mộc đỏ của Công an xã L, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương và hình dấu đỏ niêm phong Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương. Khối lượng mẫu vật niêm phong: M1=1,4447 gam; M2=0,1439 gam.
(Vật chứng nêu trên được thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/11/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng).
3. Án phí hình sự sơ thẩm:
- Bị cáo Lê Hoàng Kim T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
4. Quyền kháng cáo:
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án (ngày 05/01/2022)./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - VKSND huyện Dầu Tiếng; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; - Phòng PV 06-Công an tỉnh Bình Dương; - Phòng PV 10-Công an tỉnh Bình Dương; - Cơ quan CSĐT - CA H. Dầu Tiếng; - Cơ quan THAHS&HTTT - CA H. Dầu Tiếng; - CC THA DS H. Dầu Tiếng; - Người tham gia tố tụng; - Lưu: Hồ sơ, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tuấn Nam |