- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn V - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Trung Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2022/HS-ST Ngày 10/01/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hằng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Danh Dẹp;
2. Ông Huỳnh Quốc Diện.
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Lữ Cẩm Nhung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Ông Lê Anh Vũ - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 01 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ch, tỉnh K, xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 84/2021/TLST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2021, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 92/2021/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:
Trần Trung Th, sinh năm 1992 tại Đ; Nơi cư trú: Tổ 4, khu phố 8, phường L, thành phố B, tỉnh Đ; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ văn hóa: 8/12; Quốc Tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Con ông Trần Văn S, sinh năm 1961 và bà La Thị Thu H, sinh năm 1968; Vợ tên Nguyễn Thị Kim T (đã ly hôn), sinh năm 1993 và có 01 người con sinh năm 2019; Tiền án: Không.
Tiền sự: Ngày 30/11/2020, bị Công an thành phố B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy với số tiền 2.250.000 đồng. Đã chấp hành xong quyết định vào cùng ngày 30/11/2020, chưa được xóa tiền sự.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 12/5/2021
Bị cáo có mặt tại phiên tòa
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Trung Th là người nghiện ma túy, loại ma túy đá từ năm 2020. Khoảng 16 giờ ngày 11/5/2021, do có nhu cầu sử dụng ma túy và biết được thông tin qua người bạn tên Hưng (chưa rõ họ tên thật, lai lịch), Th gặp và mua của một người tên Long (chưa rõ họ tên thật, lai lịch) 02 bịch ma túy với số tiền 8.000.000 đồng tại “ngã tư Amata” thuộc thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Khi có ma túy, Th cất trong một cái túi có chữ “m” và lấy một ít ra sử dụng tại quán cà phê không biết tên ở thành phố B, tỉnh Đ. Sau đó, do buồn chuyện gia đình nên Th đi xe khách “Kim Định” xuống huyện Ch, tỉnh K để tìm người bạn tên Trung (không rõ nhân thân, lai lịch) ở gần Cầu Tà N, xã V, huyện Ch, tỉnh K để chơi. Đến khoảng 01 giờ ngày 12/5/2021, Th xuống xe ô tô khách và đứng trên đoạn đường Quốc lộ 61, thuộc ấp H, xã V, huyện Ch thì bị lực lượng công an thuộc Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh K kiểm tra bắt quả tang cùng vật chứng là 02 bịch ma túy được cất trong túi vải màu đen có ký hiệu chữ “m” màu xanh Th đang đeo trên người, 03 điện thoại di động và 1.350.000 đồng. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Trần Trung Th thừa nhận hành vi phạm tội.
Kết quả xét nghiệm chất ma túy vào ngày 12/5/2021 tại Trung tâm Y tế huyện Ch thể hiện Trần Trung Th dương tính với chất ma túy loại Methamphetamine.
Tại bản Kết luận giám định 484/KL-KTHS, ngày 14/5/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh K kết luận: “Các hạt tinh thể dạng rắn, trong suốt chứa trong 02 (hai) bịch nylon được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 29,8623 gam.”
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT 323, Nghị định 73/2018/NĐ-CP, ngày 15/5/2018 của Chính phủ.
- Về tình tiết tăng nặng: không có tình tiết tăng nặng.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Trần Trung Th đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội.
* Đồ vật, tài liệu thu giữ, tạm giữ, hướng xử lý vật chứng gồm:
- 01 (một) phong bì màu trắng có dòng chữ CÔNG AN TỈNH K PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ, Niêm phong mẫu vật, vụ số 484/2021, ngày 17 tháng 5 năm 2021, người chứng kiến Nguyễn Chí Th, giám định viên Thái Thị Thanh Th có đóng dấu mộc đỏ niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh K. Phong bì được niêm phong chứa ma túy còn lại sau giám định đã được nhập kho vật chứng, đề nghị tuyên tịch thu tiêu hủy.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng gold, model A1661FCCID:BCG-E3087A; IC: 579C-E3087A.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu MI MIX DESIGNED BY XIAOMI màu đen.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh, IMEI: 357931/09/194150/5, IMEI: 357932/09/194150/3 đã qua sử dụng.
- 01 (một) túi vải màu đen có ký hiệu chữ m màu xanh, có ngăn kéo.
- Tiền Việt Nam: 1.350.000 đồng (Một triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng).
Đây là những đồ vật của bị can không liên quan đến sự việc phạm tội, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho bị cáo.
Đối với đối tượng tên L là người đã bán ma túy cho Th. H là người đã giới thiệu cho Th biết và mua ma túy của L chưa xác định được nhân thân lai lịch của những người này. Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Ch tiếp tục xác minh điều tra làm rõ nếu xác định có dấu hiệu phạm tội thì sẽ xử lý sau.
Tại bản cáo trạng số: 91/CT-VKS-CT ngày 29 tháng 11 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ch, tỉnh K đã truy tố bị cáo Trần Trung Th về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ch vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Trần Trung Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Trung Th từ 06 đến 07 năm tù.
Về biện pháp tư pháp đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử:
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì màu trắng có dòng chữ CÔNG AN TỈNH K PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ, Niêm phong mẫu vật, vụ số 484/2021, ngày 17 tháng 5 năm 2021, người chứng kiến Nguyễn Chí Th, giám định viên Thái Thị Thanh Th có đóng dấu mộc đỏ niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh K.
- Trả lại cho Trần Trung Th các vật chứng sau do không liên quan đến việc phạm tội:
+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng gold, model A1661FCCID:BCG-E3087A; IC: 579C-E3087A.
+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu MI MIX DESIGNED BY XIAOMI màu đen.
+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh, IMEI: 357931/09/194150/5, IMEI: 357932/09/194150/3 đã qua sử dụng.
+ 01 (một) túi vải màu đen có ký hiệu chữ m màu xanh, có ngăn kéo.
+ Tiền Việt Nam: 1.350.000 đồng (Một triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng).
Bị cáo không có ý kiến tranh luận về quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ch.
Bị cáo được nói lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận thấy như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Ch, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ch, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiền hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu cũng như kết quả điều tra của Cơ quan điều tra và bản cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ch. Từ đó, có đủ căn cứ để xác định: Vào khoảng 01 giờ ngày 12/5/2021, tại đoạn Quốc lộ 61, thuộc ấp H, xã V, huyện Ch, tỉnh K, lực lượng Cảnh sát phòng chống tội phạm ma túy Công an tỉnh K tiến hành kiểm tra và bắt quả tang Trần Trung Th đang có hành vi tàng trữ trong túi vải màu đen có ký hiệu chữ “m” màu xanh Th đang đeo trên người 02 (hai) bịch nylon bên trong chứa các hạt tinh thể dạng rắn qua giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng là 29,8623 gram.
Đối chiếu theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định: "2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm
……..
g) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam”.
Nên hành vi của bị cáo Th đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” như đã viện dẫn như trên. Do đó, cáo trạng đã truy tố bị cáo là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
- Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma tuý, gây tác hại nguy hiểm cho sức khoẻ của con người và cũng là nguyên nhân phát sinh ra các tệ nạn trong xã hội, gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Bị cáo đã trưởng thành và nhận thức được sử dụng ma túy là vi phạm pháp luật. Thế nhưng chỉ vì nghiện ma túy bị cáo vẫn bất chấp pháp luật cứ dấn thân vào con đường nghiện hút không lối thoát, hành vi này đang gây nên một hệ lụy xấu về tương lai trong giới thanh niên trẻ ngày nay. Trong tình hình tội phạm về sử dụng ma túy ngày càng gia tăng và phức tạp như hiện nay. Do đó,cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, cải tạo giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
- Xét về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng được quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.Tuy nhiên, qua hồ sơ thể hiện vào năm 2020 bị cáo đã một lần bị xử phạt hành chính, về hành vi “ Tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma tý” vẫn chưa được xóa nên qua đây cần xem xét về nhân thân bị cáo khi lượng hình mới là thỏa đáng.
- Xét về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét cho bị cáo khi lượng hình là phù hợp.
- Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, khung hình phạt cũng như việc áp dụng các điều luật để xử lý vụ án là có căn cứ pháp luật nên HĐXX ghi nhận.
Về đánh giá vật chứng, xử lý vật chứng:
7.1 Đối với 01 (một) phong bì màu trắng có dòng chữ CÔNG AN TỈNH K PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ, Niêm phong mẫu vật, vụ số 484/2021, ngày 17 tháng 5 năm 2021, người chứng kiến Nguyễn Chí Th, giám định viên Thái Thị Thanh Th có đóng dấu mộc đỏ niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh K. Đây là vật chứng cấm lưu hành, tàng trữ nên cần xử tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
7.2 Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng gold, model A1661FCCID:BCG-E3087A; IC: 579C-E3087A; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu MI MIX DESIGNED BY XIAOMI màu đen; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh, IMEI: 357931/09/194150/5, IMEI: 357932/09/194150/3 đã qua sử dụng; 01 (một) túi vải màu đen có ký hiệu chữ m màu xanh, có ngăn kéo và Tiền Việt Nam: 1.350.000 đồng (Một triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng). Trong quá trình điều tra đã chứng minh được các đồ vật trên không liên quan đến việc phạm tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ch đã xử lý trả lại cho bị cáo Th là phù hợp theo quy định của pháp luật nên HĐXX không xem xét.
Về án phí: Xử buộc bị cáo phải có nghĩa vụ nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Trần Trung Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Trần Trung Th 06 ( sáu ) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 12/5/2021.
Về biện pháp tư pháp áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử:
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì màu trắng có dòng chữ CÔNG AN TỈNH K PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ, Niêm phong mẫu vật, vụ số 484/2021, ngày 17 tháng 5 năm 2021, người chứng kiến Nguyễn Chí Th, giám định viên Thái Thị Thanh Th có đóng dấu mộc đỏ niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh K.
Vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ch, tỉnh K đang quản lý theo quyết định chuyển giao vật chứng số: 66/QĐ-VKSCT ngày 29 0063/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ch.
Về án phí áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án
Xử buộc bị cáo Trần Trung Th phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - Sở tư pháp tỉnh Kiên Giang; - VKSND huyện Châu Thành; - Công An huyện Châu Thành; - Chi cục THADS huyện Châu Thành; - Bị cáo; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ Tọa phiên Tòa Lê Thị Thúy Hằng |