- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ s…"
- Tòa quyết gì? Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 55; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2022/HS-ST Ngày: 05-01-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Anh Duy.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Độ;
Ông Nguyễn Văn Hòa.
- Thư ký phiên tòa: Ông Kiều Vĩnh Phong – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng tham gia phiên tòa: Ông Thái Hoàng Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 63/2021/TLST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2021/QĐXXST–HS ngày 23 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:
Võ Văn L, sinh năm 1985 tại Cần Thơ. Nơi cư trú: Khu phố X, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Dương; trình độ văn hóa: 01/12; nghề nghiệp: Không; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Võ Văn V và bà Nguyễn Thị C; có vợ Nguyễn Thị P và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 30/6/2021 và tạm giam cho đến nay; có mặt.
Người làm chứng:
1/ Ông Nguyễn Văn L; vắng mặt.
2/ Ông Ngô Bảo T; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Võ Văn L, sinh năm 1985, trú tại khu phố X, phường T, thị xã C, tỉnh Bình Dương, Nguyễn Văn L sinh năm 1990, trú tại ấp L, xã H, huyện B, tỉnh Bình Dương và Ngô Bảo T sinh năm 1983, trú tại ấp L, xã H, huyện B, tỉnh Bình Dương là bạn bè quen biết và đều là các đối tượng sử dụng ma túy. Khoảng 13 giờ ngày 30/6/2021, Võ Văn L đến khu vực chợ B thuộc thị xã C, tỉnh Bình Dương mua 500.000 đồng ma túy đá của một người phụ nữ (không rõ họ tên, địa chỉ). Sau khi mua được ma túy, L về nhà tại ấp L, xã H, huyện B, tỉnh Bình Dương. L điện thoại rủ Nguyễn Văn L ra căn nhà hoang sử dụng ma túy, L đồng ý. Khi đến nhà hoang, L đổ một ít ma túy vào bộ dụng cụ để sử dụng. Số ma túy còn lại L cất vào bên trong điện thoại (nắp sau điện thoại) rồi cất vào túi quần đang mặc. Trong lúc L và L đang sử dụng ma túy thì Ngô Bảo T đến đi ngang qua thấy L và L đang sử dụng ma túy nên vào sử dụng ma túy với L và L. Khi T vào, Nguyễn Văn L đi ra ngoài mua thuốc lá. L, T tiếp tục sử dụng ma túy thì bị Công an xã Lai Hưng kiểm tra phát hiện và bắt quả tang. Đối tượng T bỏ chạy, L bị bắt tại chỗ.
Vật chứng tạm giữ: 01 gói nylon hàn kín bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng được hàn kín thu giữ của Lâm; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy: gồm bình thủy tinh, ống hút, ống thủy tinh; 01 điện thoại hiệu Nokia model 2300 màu xanh.
Theo kết luận giám định số 412/MT-PC09 ngày 07/7/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,2014 gam, loại Methamphetamine. Hoàn lại đối tượng giám định: Mẫu vật sau giám định được niêm phong có khối lượng: 0,1629 gam.
Đối với Nguyễn Văn L và và Ngô Bảo T không góp tiền mua ma túy với Lâm nên chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Ngày 13/9/2021, Công an huyện Bàu Bàng ra quyết định xử lý hành chính Lợi và Bảo với số tiền 750.000 đồng.
Đối với đối tượng đã bán ma túy cho Lâm, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ khi nào có kết quả sẽ xử lý sau.
Cáo trạng số 59/CT–VKSBB ngày 27/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng truy tố bị cáo Võ Văn Lâm về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng trong phần tranh luận, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
+ Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 07 (bảy) năm đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù.
Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình Sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, tổng hợp hình phạt của 02 tội, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung là từ 08 (tám) năm đến 09 (chín) năm tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:
+ Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số: 412/PC09 có hình dấu đỏ của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Bình Dương, bên trong có chứa 0,1629 gam Methamphetamine là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành.
+ Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: bình thủy tinh, ống hút, ống thủy tinh là công cụ bị cáo thực hiện hành vi phạm tội.
+ Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại hiệu Nokia model 2300 màu xanh (không có pin, không kiểm tra máy móc bên trong) là công cụ bị cáo thực hiện hành vi phạm tội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng qua phần tranh luận vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và nội dung luận tội.
Tại phiên tòa, bị cáo thống nhất toàn bộ nội dung truy tố, luận tội và không có ý kiến tranh luận.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo ăn năn hối hận và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng với quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can, biên bản niêm phong, kết luận giám định cùng những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết luận: Ngày 30/6/2021, tại ấp L, xã H, huyện B, tỉnh Bình Dương, Võ Văn L có hành vi cung cấp ma túy, dụng cụ sử dụng chất ma túy cho Nguyễn Văn L và Ngô Bảo T để sử dụng trái phép chất ma túy. Ngoài ra, Võ Văn L còn có hành vi cất giấu 0,2014 gam ma túy, loại Methamphetamine. Do đó, hành vi mà bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Hành vi mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến hoạt động quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy. Hiện nay, tình hình nghiện hút chất ma túy đang diễn ra phức tạp trong mọi tầng lớp. Tệ nạn này là mối quan tâm của toàn xã hội, một trong những nguyên nhân dẫn đến tệ nạn này chưa được đẩy lùi chính là có sự tiếp tay của bị cáo. Do đó, để có tác dụng giáo dục bị cáo ý thức tuân theo pháp luật, cần có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017. Căn cứ vào nhân thân, tính chất mức độ phạm tội cũng như các tình tiết giảm nhẹ, xét mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về xử lý vật chứng:
+ Đối với 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số: 412/PC09 có hình dấu đỏ của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Bình Dương, bên trong có chứa 0,1629 gam Methamphetamine là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
+ Đối với 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: bình thủy tinh, ống hút, ống thủy tinh là công cụ bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.
+ Đối với 01 (một) điện thoại hiệu Nokia model 2300 màu xanh (không có pin, không kiểm tra máy móc bên trong) là công cụ bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
+ Điều 106, 136, 254, 260, 326, 327, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
+ Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 55; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017
+ Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1/ Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Võ Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
2/ Về hình phạt:
2.1/ Xử phạt bị cáo Võ Văn L 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2.2/ Xử phạt bị cáo Võ Văn L 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Tổng hợp hình phạt của 02 tội, buộc bị cáo Võ Văn L chấp hành hình phạt chung là 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/6/2021.
3/ Về xử lý vật chứng:
+ Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số: 412/PC09 có hình dấu đỏ của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Bình Dương, bên trong có chứa 0,1629 gam Methamphetamine.
+ Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: bình thủy tinh, ống hút, ống thủy tinh.
+ Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại hiệu Nokia model 2300 màu xanh (không có pin, không kiểm tra máy móc bên trong).
(Thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/10/2021 giữa Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng – Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bàu Bàng).
4/ Về án phí: Buộc bị cáo Võ Văn L nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - Công an tỉnh Bình Dương (PV06); - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương; - VKSND huyện Bàu Bàng; - Công an huyện Bàu Bàng; - Chi cục THADS huyện Bàu Bàng; - Người tham gia tố tụng; - Lưu: HS, Tòa. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Văn Độ Nguyễn Văn Hòa | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Anh Duy THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Anh Duy |