- Tranh chấp gì? án hình sự — "T phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2022/HS-ST Ngày: 10/01/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Công Trung
Ông Nguyễn Trung Hiền
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Hoàng Long - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 54/2021/TLST-HS ngày 21/12/2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2021/QĐXXST – HS ngày 30/12/2021 đối với bị cáo:
T, sinh ngày 03/5/1991; Tên gọi khác: Không; Nơi sinh: tỉnh Ninh Thuận; Nơi cư trú: thôn T, xã Ph, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Chăm; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Bàlamôn; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông D và bà Đ; Có vợ: H; Có 02 con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2019; Có 05 anh chị em, lớn nhất sinh năm 1989, nhỏ nhất sinh năm 2002; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 21/6/2021 tại xã Ph, huyện N, tỉnh Ninh Thuận cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người đại diện theo pháp luật cho bị hại đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị L, sinh năm 1987;
Nơi cư trú: Ấp Th, xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre. (Xin vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Ph, sinh năm 1956;
Nơi cư trú: Ấp Th, xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre. (Xin vắng mặt).
2. Chị Q, sinh năm 2000;
Nơi cư trú: Ấp Th, xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre. (Có mặt).
3. Anh A , sinh năm 1983;
Nơi cư trú: K 9, phường Ph, thành phố Ph, tỉnh Ninh Thuận. (Xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
T là tài xế lái xe thuê cho anh Th; anh Th thuê chiếc xe ô tô tải đông lạnh biển số 85C-007.22 của anh A để chở hàng. Vào trưa ngày 21/4/2021, T điều khiển xe ô tô biển số 85C-007.22 (có giấy phép lái xe hạng C) chở tôm giống từ tỉnh Ninh Thuận đến huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Khi đến khu vực Quốc lộ 57C thuộc ấp An Hòa, xã An Bình Tây, huyện Ba Tri, T phát hiện anh V đang điều khiển xe mô tô biển số 71C2-412.57 chạy ngược chiều đến trên phần đường bên phải của Tô, nên Tô điều khiển xe ô tô chạy sang phần đường bên trái theo hướng lưu thông để tránh nhưng để xe ô tô đụng vào xe mô tô biển số 71C2-412.57 gây tai nạn, hậu quả làm anh V tử vong tại bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu.
Theo biên bản khám nghiệm hiện trường lập lúc 22 giờ ngày 21/4/2021 xác định:
- Hiện trường nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường thẳng tầm nhìn không bị che khuất, mặt đường nhựa bằng phẳng rộng 08m, có vạch kẻ tim đường dạng đứt quãng màu vàng. Khám nghiệm hiện trường theo hướng từ Thành phố Bến Tre đi huyện Ba Tri và lấy lề trái theo hướng khám nghiệm làm lề chuẩn, chọn trụ điện số 16 ở vị trí nằm ngoài mép đường bên phải theo hướng khám nghiệm cách mép đường bên phải 3,8m làm mốc cố định.
- Xe ô tô tải biển số 85C-007.22 sau tai nạn đỗ bên phần đường bên trái theo hướng khám nghiệm, phần đầu xe hướng theo hướng khám nghiệm. Trục trước và trục sau bên trái của xe cách lề chuẩn lần lượt là 1,8m và 2,3m. Trước khi đỗ, xe ô tô để lại 02 vết ma sát có chiều hướng phát triển từ phần đường bên phải sang phần đường bên trái, từ thành phố Bến Tre đến huyện Ba Tri; vết ma sát 1 có kích thước dài 18,1m, rộng 0,16m, đầu vết ma sát cách mép đường chuẩn là 05m, cuối vết ma sát trùng với trục trước bên phải xe ô tô tải biển số 85C-007.22 cách mép đường chuẩn 3,7m; vết ma sát 2 kích thước dài 15,9m, rộng 0,16m, đầu vết ma sát cách lề chuẩn 3,2m, cuối vết ma sát trùng với trục trước bên trái xe ô tô tải biển số 85C-007.22 cách lề chuẩn 1,8m.
- Xe mô tô biển số 71C2-412.57 sau tai nạn ngã phải nằm ở phần đường bên trái theo hướng khám nghiệm, đuôi xe quay về hướng lề chuẩn, đầu xe bị vỡ; trục trước và sau xe cách lề chuẩn 3,7m và 2,6m. Trước khi ngã để lại 02 vết cày nằm ở phần đường bên trái có chiều hướng phát triển từ phần đường bên trái sang phần đường bên phải, từ thành phố Bến Tre đến huyện Ba Tri; vết cày 1 dạng đứt quãng dài 3,4m, đầu và cuối vết cày cách lề chuẩn 3,1m và 3,6m; vết cày 2 dài 0,3m, đầu và cuối vết cày cách lề chuẩn 3,8m và 3,9m.
- Vùng đụng giữa xe ô tô 85C-007.22 với xe mô tô 71C2-412.57 nằm ở phần đường bên trái theo hướng khám nghiệm có kích thước dài 0,85m, rộng 0,7m; tâm vùng đụng cách lề chuẩn 3,3m, cách trục trước bên trái xe ô tô tải 85C-007.22 là 02m, cách đầu vết cày thứ nhất của của xe mô tô 71C2-412.57 là 1,5m.
Phương tiện và giấy tờ tạm giữ, gồm:
- 01 Giấy phép lái xe hạng C số 790160233621 do Sở Giao thông vận tải tỉnh Ninh Thuận cấp ngày 13/4/2016 cho T; Cơ quan điều tra đã xử lý giao trả cho T;
- 01 giấy chứng nhận kiểm định số 5256861 do Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới đường bộ tỉnh Ninh Thuận cấp ngày 19/11/2020 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô (bản sao) số 009158 do Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Ninh Thuận cấp ngày 13/4/2016 của xe ô tô tải 85C-007.22; Cơ quan điều tra đã xử lý giao trả cho chủ sở hữu A ;
- 01 xe ô tô tải đông lạnh hiệu HUYNDAI biển số 85C-007.22, số máy D4DB9407082, số khung KMCGK17BPAC125375 của A có đặc điểm: Kính chắn gió bị rạn nứt hoàn toàn, phía dưới bên phải kính chắn gió có vết nứt, thụng kích thước dài 105cm, rộng 20cm, thụng 06cm; cần gạc nước bên phải bị cong từ trước ra sau dài 35cm; phía trước ốp đầu xe bên phải có vết thụng bong tróc sơn (thụng từ ngoài vào trong) có kích thước dài 105cm, rộng 50cm, thụng 07cm; đèn chiếu sáng bên phải vỡ hoàn toàn; đèn sương mù bên phải bị cong từ ngoài vào trong từ trước ra sau khỏi vị trí ban đầu; bên phải cảng máy lọc gió bị vỡ có kích thước dài 30cm, rộng 25cm; phía trên cảng trước bên phải có vết nứt kích thước dài 06cm cách thành bên phải cảng 25cm; phía trước bên phải cảng trước có vết nứt, ma sát có bám chất màu đen có kích thước dài 32cm, rộng 23cm, điểm gần nhất cách thành cảng bên phải 58cm; mặt dưới lốp xe trụ trước bên trái bị mài mòn rộng 16cm; mặt dưới lốp xe trụ trước bên phải bị mài mòn rộng 16cm; Cơ quan điều tra đã xử lý giao trả cho chủ sở hữu A ;
- 01 xe mô tô biển số 71C2-412.57 nhãn hiệu YAMAHA JUPITER, màu sơn xám đen, số máy: E3S1E066260, số khung RLCUE1340HY033256 của Trương Văn Dũng có đặc điểm: Phần đầu xe bị vỡ, gãy hoàn toàn; lốc máy bị vỡ có kích thước dài 13 cm, rộng 11 cm; ốp thân xe bên phải có vết trầy xước dài 07 cm, rộng 1,5cm; gác chân sau bên phải bị gãy rời khỏi vị trí ban đầu; Cơ quan điều tra đã xử lý giao trả cho mẹ của nạn nhân là bà Ph.
- Nhiều mảnh vỡ nhỏ (chưa xử lý).
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 28-421/TT ngày 06/5/2021, Trung tâm Pháp y tỉnh Bến Tre kết luận nạn nhân V chết do sốc mất máu nặng, trụy tim mạch, xuất huyết nội lượng nhiều/Đa chấn thương do tai nạn giao thông.
Tại Bản Cáo trạng số: 04/CT-VKS ngày 20/12/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri đã truy tố T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố bị cáo T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”:
- Về hình phạt đề nghị HĐXX: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38, 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách gấp đôi.
- Về xử lý vật chứng đề nghị: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
+ Ghi nhận Cơ quan điều tra đã xử lý giao trả: 01 Giấy phép lái xe hạng C số 790160233621 do Sở Giao thông vận tải tỉnh Ninh Thuận cấp ngày 13/4/2016 cho T; 01 giấy chứng nhận kiểm định số 5256861 do Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới đường bộ tỉnh Ninh Thuận cấp ngày 19/11/2020, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô (bản sao) số 009158 do Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Ninh Thuận cấp ngày 13/4/2016 của xe ô tô tải 85C-007.22 và 01 xe ô tô tải đông lạnh hiệu HUYNDAI biển số 85C-007.22, số máy D4DB9407082, số khung KMCGK17BPAC125375 của A ; 01 xe mô tô biển số 71C2-412.57 nhãn hiệu YAMAHA JUPITER, màu sơn xám đen, số máy: E3S1E066260, số khung RLCUE1340HY033256 của V cho mẹ của nạn nhân là bà Ph.
+ Tịch thu tiêu hủy nhiều mảnh vỡ nhỏ do không còn giá trị sử dụng.
- Về trách nhiệm dân sự đề nghị HĐXX: Ghi nhận anh A đã bồi thường cho phía bị hại tổng số tiền 135.000.000 đồng và phía bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Tại phiên tòa, bị cáo T khai nhận toàn bộ hành vi điều khiển xe gây tai nạn phù hợp với dấu vết hiện trường, kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện và đã tác động chủ sở hữu xe ô tô tải biển số 85C-007.22 là anh A bồi thường xong cho gia đình nạn nhân V số tiền 135.000.000 đồng. Bị cáo xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Trong quá trình điều tra, chị L trình bày: Chị đã nhận đủ số tiền bồi thường 60.000.000 đồng từ phía bị cáo và không yêu cầu bồi thường gì thêm. Về trách nhiệm hình sự, chị L có đơn xin bãi nại cho bị cáo.
Trong quá trình điều tra, bà Ph trình bày: Bà đã nhận đủ số tiền bồi thường 75.000.000 đồng từ phía bị cáo và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Tại phiên tòa, chị Q trình bày: Chị đã nhận từ bà Ph số tiền 20.000.000 đồng và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Trong quá trình điều tra, anh A trình bày: Anh tự nguyện bồi thường cho phía bị hại tổng số tiền 135.000.000 đồng thay cho bị cáo, anh không yêu cầu bị cáo phải trả lại cho anh số tiền này.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
Về tố tụng, chị L, bà Ph, anh A vắng mặt tại phiên tòa. Tuy nhiên, những người này đã có lời khai thể hiện rõ trong quá trình điều tra vụ án, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa và những người tiến hành tố tụng tại phiên tòa không có ý kiến về việc vắng mặt của những người nêu trên. Xét việc vắng mặt của những người nêu trên không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, HĐXX tiến hành xét xử vụ án vắng mặt những người nêu trên.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ba Tri, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, lời khai nhận của bị cáo T phù hợp với lời khai của đại diện theo pháp luật của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cùng những tài liệu, chứng cứ khác do cơ quan điều tra thu thập trong quá trình điều tra vụ án. Đã đủ cơ sở xác định: Do không tuân thủ đúng quy tắc giao thông đường bộ, T đã điều khiển xe ô tô tải biển số 85C-007.22 đi không đúng phần đường quy định (vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ) dẫn đến tai nạn làm anh V tử vong; vụ việc xảy ra vào khoảng 21 giờ 30 ngày 21/4/2021 trên Quốc lộ 57C thuộc ấp An Hòa, xã An Bình Tây, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri đã truy tố bị cáo T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi vi phạm Luật Giao thông đường bộ của bị cáo dẫn đến tai nạn giao thông là gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại trực tiếp đến an toàn, sự hoạt động bình thường của các phương tiện giao thông đường bộ và xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ. Khi thực hiện hành vi, bị cáo là người đã trưởng thành, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Tuy bị cáo thực hiện hành vi với lỗi vô ý, nhưng thiệt hại do bị cáo gây ra là rất nghiêm trọng do đã làm chết một người. Việc làm của bị cáo không những là vi phạm pháp luật mà còn gây ra sự đau đớn, mất mát không gì bù đắp được cho gia đình người bị hại, làm cho họ vĩnh viễn mất đi một người thân yêu trong gia đình, gây tâm lý hoang mang, lo sợ trong quần chúng nhân dân, làm cho họ không an tâm khi tham gia giao thông đường bộ. Do vậy, việc đưa bị cáo ra xét xử là cần thiết và HĐXX xét thấy cần xử lý bị cáo tương xứng với tính chất và mức độ của hành vi do bị cáo gây ra nhằm răn đe, giáo dục bị cáo đồng thời cũng răn đe, giáo dục và phòng ngừa những trường hợp tương tự có thể xảy ra.
Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Sau tai nạn, bị cáo tác động anh A bồi thường cho phía bị hại số tiền 135.000.000 đồng; Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là có cơ sở nên được HĐXX chấp nhận, HĐXX sẽ xem xét áp dụng các tình tiết nêu trên đối với bị cáo khi lượng hình.
Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, phía bị hại có xin bãi nại cho bị cáo nên HĐXX xét thấy không cần thiết phải xử hình phạt tù giam đối với bị cáo mà xử hình phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách và giao bị cáo về cho địa phương giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo thành người tốt, có ích cho xã hội. Do đó, lời nói sau cùng của bị cáo và đề nghị của người đại diện theo pháp luật của bị hại là phù hợp với quy định của pháp luật nên được HĐXX chấp nhận.
Về xử lý vật chứng:
+ Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ba Tri đã xử lý giao trả: 01 Giấy phép lái xe hạng C số 790160233621 do Sở Giao thông vận tải tỉnh Ninh Thuận cấp ngày 13/4/2016 cho T; 01 giấy chứng nhận kiểm định số 5256861 do Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới đường bộ tỉnh Ninh Thuận cấp ngày 19/11/2020, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô (bản sao) số 009158 do Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Ninh Thuận cấp ngày 13/4/2016 của xe ô tô tải 85C-007.22 và 01 xe ô tô tải đông lạnh hiệu HUYNDAI biển số 85C-007.22, số máy D4DB9407082, số khung KMCGK17BPAC125375 của A ; 01 xe mô tô biển số 71C2-412.57 nhãn hiệu YAMAHA JUPITER, màu sơn xám đen, số máy: E3S1E066260, số khung RLCUE1340HY033256 của V cho mẹ của nạn nhân là bà Ph. Việc trao trả vật chứng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ba Tri có cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật nên HĐXX ghi nhận.
+ Tịch thu tiêu hủy nhiều mảnh vỡ nhỏ do không còn giá trị sử dụng.
Về trách nhiệm dân sự: Anh A đã thỏa thuận bồi thường cho phía bị hại số tiền 135.000.000 đồng thay cho bị cáo và anh A không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền này là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với quy định của pháp luật nên HĐXX ghi nhận.
Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm và án phí cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo T 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 (Ba) năm tính từ ngày tuyên án là ngày 10/01/2022.
Giao bị cáo T cho Ủy ban nhân dân xã Ph, huyện N, tỉnh Ninh Thuận giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
+ Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ba Tri đã xử lý giao trả: 01 Giấy phép lái xe hạng C số 790160233621 do Sở Giao thông vận tải tỉnh Ninh Thuận cấp ngày 13/4/2016 cho T; 01 giấy chứng nhận kiểm định số 5256861 do Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới đường bộ tỉnh Ninh Thuận cấp ngày 19/11/2020, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô (bản sao) số 009158 do Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Ninh Thuận cấp ngày 13/4/2016 của xe ô tô tải 85C-007.22 và 01 xe ô tô tải đông lạnh hiệu HUYNDAI biển số 85C-007.22, số máy D4DB9407082, số khung KMCGK17BPAC125375 của A ; 01 xe mô tô biển số 71C2-412.57 nhãn hiệu YAMAHA JUPITER, màu sơn xám đen, số máy: E3S1E066260, số khung RLCUE1340HY033256 của V cho mẹ của nạn nhân là bà Ph.
+ Tịch thu tiêu hủy nhiều mảnh vỡ nhỏ (Theo phiếu nhập kho số NKTV 49 ngày 24/12/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri).
4. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận anh A đã thay cho bị cáo bồi thường cho phía bị hại số tiền 135.000.000 (Một trăm ba mươi lăm triệu) đồng.
5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14;
Buộc bị cáo T nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày tròn kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt theo quy định pháp luật. * Nơi nhận:
| - Bị cáo; - Đại diện hợp pháp bị hại; - Đương sự; - TAND tỉnh Bến Tre; - VKSND tỉnh Bến Tre; - Sở Tư pháp tỉnh Ninh Thuận; - VKSND huyện Ba Tri; - Cơ quan CSĐT Công an huyện Ba Tri; - Cơ quan THAHS Công an huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận; - Chi cục THADS huyện Ba Tri; - UBND xã Ph, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thanh Tùng |